XÁC ĐỊNH CÁC GIẢ ĐỊNH, ƯỚC TÍNH, VÀ ĐỊNH KIẾN

14:15 07/13/2018

Hãy cùng nhau tìm hiểu sâu hơn một chút yếu tố này của trí tuệ tài chính, hiểu khía cạnh “nghệ thuật” của tài chính. Chúng ta sẽ cùng xem xét ba ví dụ và đặt ra một số câu hỏi đơn giản nhưng trọng yếu:

Con số này chứa những giả định gì?

Có bất kỳ ước tính nào trong những con số này không? Những giả định và ước tính này sẽ dẫn đến định kiến gì? Chúng có tác động như thế nào?

Ba ví dụ mà chúng ta sẽ xem xét là chi phí trả trước và dự trù chi phí (accrual and allocation), khấu hao (depreciation) và định giá (valuation). Nếu bạn thấy những từ ngữ trên nghe như một thứ ngôn ngữ lạ của dân tài chính, thì chớ vội lo lắng. Bạn sẽ bất ngờ khi thấy mình có đủ hiểu biết để tiếp tục cuộc chơi này nhanh như thế nào.

CHI PHÍ TRẢ TRƯỚC VÀ DỰ TRÙ CHI PHÍ: CÓ RẤT NHIỀU GIẢ ĐỊNH VÀ ƯỚC TÍNH

Mỗi tháng cứ đến một thời điểm nhất định, kế toán trưởng của công ty sẽ bận bịu “kết sổ”. Đây cũng là một câu hỏi tài chính: Tại sao lại mất nhiều thì giờ đến vậy? Nếu bạn chưa từng làm tài chính, bạn có thể tưởng sẽ chỉ mất một ngày để tổng hợp mọi số liệu cuối tháng. Nhưng thực tế là hai hay ba tuần ư?

Đúng vậy, một bước ngốn khá nhiều thời gian đó là tìm tất cả các khoản trả trước và dự trù chi phí. Bạn chưa cần hiểu chi tiết ngay − chúng ta sẽ đi sâu vào chúng ở các chương 10 và 11. Còn bây giờ, hãy đọc định nghĩa  trong các khung và tập trung vào thực tế là các kế toán viên sẽ sử dụng những khoản trả trước và dự trù chi phí để cố gắng vẽ ra một bức tranh chính xác về tình hình kinh doanh của tháng này. Sau cùng, chẳng ai được lợi nếu các báo cáo tài chính không cho chúng ta biết chúng ta mất bao nhiêu chi phí để sản xuất và cung cấp dịch vụ mà chúng ta vừa bán trong tháng qua. Đó là việc mà nhân viên của phòng tài chính đang cố gắng tìm ra, và đó là lý do việc này lại tốn nhiều thời gian đến vậy.

Chi phí trả trước

Chi phí trả trước (accrual) là một phần của một khoản mục doanh thu hay chi phí được ghi nhận trong một khoảng thời gian cụ thể. Ví dụ, chi phí phát triển sản phẩm có thể được trải ra nhiều kỳ kế toán, và vì thế từng phần của tổng chi phí đó sẽ được trích chi mỗi tháng. Mục đích của chi phí trả trước là để doanh thu phù hợp nhất có thể với chi phí trong một khoảng thời gian nhất định.

Dự trù chi phí

Dự trù chi phí là phân bổ chi phí cho các bộ phận hoặc hoạt động khác nhau trong doanh nghiệp. Ví dụ, những khoản chi phí hoạt động như tiền lương của CEO thường được phân bổ vào các đơn vị hoạt động của doanh nghiệp.

Việc xác định chi phí trả trước và dự trù chi phí hầu như luôn đòi hỏi các giả định và ước tính. Hãy lấy tiền lương của bạn làm ví dụ. Giả sử trong tháng Sáu bạn nghiên cứu một dòng sản phẩm mới, và dòng sản phẩm đó được ra mắt vào tháng Bảy. Lúc này, nhân viên kế toán lên dự trù chi phí sẽ phải ước tính xem nên gán bao nhiêu phần lương của bạn cho giá thành sản phẩm (vì bạn đã bỏ phần lớn thời gian của mình cho những sản phẩm ban đầu), và bao nhiêu phần cho chi phí phát triển (vì bạn cũng làm các công việc phát triển ban đầu). Cô ấy cũng phải xác định cách tính trước cho tháng Sáu so với tháng Bảy. Tùy vào cách giải quyết các câu hỏi này, cô ấy có thể làm thay đổi đáng kể diện mạo của báo cáo kết quả kinh doanh. Giá thành sản phẩm sẽ được tính vào giá vốn hàng bán. Nếu giá thành sản phẩm tăng, lợi nhuận gộp sẽ giảm − và lợi nhuận gộp là thước đo chính để đánh giá khả năng sinh lợi của sản phẩm. Trong khi đó, chi phí phát triển lại được tính vào chi phí nghiên cứu và phát triển, và được gộp vào nhóm chi phí hoạt động trên báo cáo kết quả kinh doanh, và không hề tác động đến lợi nhuận gộp. Vậy, chúng ta hãy giả sử kế toán viên đã xác định rằng toàn bộ tiền lương của bạn cần được tính vào chi phí phát triển của tháng Sáu, thay vì giá thành sản phẩm của tháng Bảy. Cô giả định rằng, công việc của bạn không liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất sản phẩm, do đó không nên xếp vào giá thành sản phẩm. Nhưng ở đây có một định kiến nhân đôi dẫn đến hệ quả là:

Thứ nhất, chi phí phát triển cao hơn so với khi giả định theo hướng khác. Một nhà điều hành phân tích các chi phí sau đó có thể quyết định rằng hoạt động phát triển sản phẩm quá đắt đỏ và doanh nghiệp không nên mạo hiểm thêm nữa. Nếu điều này xảy ra, có thể doanh nghiệp sẽ hạn chế phát triển sản phẩm, việc làm này gây nguy hại cho tương lai của doanh nghiệp.

Thứ hai, nếu giá thành sản phẩm thấp hơn so với khi giả định theo hướng khác. Điều này sẽ tác động đến các quyết định then chốt như định giá và tuyển dụng. Có thể sản phẩm sẽ bị định giá quá thấp. Có thể sẽ có thêm nhiều người được tuyển vào để sản xuất thứ trông như một sản phẩm dễ sinh lời − dù lợi nhuận cho thấy có những giả định đáng ngờ.

Bài toán chi phí

Tất nhiên, ở hầu hết các doanh nghiệp, tiền lương phải trả cho một cá nhân sẽ không tạo nên quá nhiều khác biệt. Song những giả định tác động đến một cá nhân đó có thể được áp dụng cho toàn bộ ban quản lý. Đúng như một câu nói quen thuộc ở Washington D.C., một khoản ở đây và một khoản ở kia, và chẳng mấy chốc ta đang nói về một số tiền có thật. Song dù ở mức độ nào, trường hợp này cũng đủ đơn giản để bạn có thể dễ dàng tìm thấy câu trả lời cho những câu hỏi mà chúng tôi đã đặt ra trước đó. Con số này chứa những giả định gì? Thời gian của bạn được đầu tư vào việc phát triển, và bạn không liên quan gì nhiều đến công đoạn sản xuất ra những sản phẩm được bán trong tháng Bảy. Ước tính? Nên phân bổ tiền lương của bạn ra sao giữa chi phí phát triển và giá thành sản phẩm. Định kiến? Chi phí phát triển cao hơn, giá thành sản phẩm thấp hơn. Và các tác động? Lo ngại chi phí phát triển quá cao, trong khi giá sản phẩm có thể quá thấp.

Ai dám nói công việc tài chính không khổ ải hay thiếu sự tinh tế? Chuyên gia kế toán và tài chính luôn dốc sức để cho ra bức tranh chính xác nhất có thể về hoạt động của doanh nghiệp. Dù suốt thời gian đó, họ biết rằng họ sẽ không bao giờ nắm được con số chính xác.

TỰ QUYẾT MỨC KHẤU HAO

Ví dụ thứ hai là việc sử dụng cách tính khấu hao. Khái niệm khấu hao không quá phức tạp. Ví dụ, một công ty mua một chiếc máy hoặc thiết bị đắt tiền và kỳ vọng có thể sử dụng nó trong nhiều năm. Kế toán viên sẽ nghĩ đến một sự kiện như sau: thay vì trừ toàn bộ chi phí vào doanh thu một tháng − điều này có thể đẩy công ty hoặc đơn vị kinh doanh vào tình trạng báo động đỏ trong tháng đó, nên phân tán chi phí theo tuổi đời hữu dụng của thiết bị. Chẳng hạn, nếu cho rằng một chiếc máy có thể sử dụng trong ba năm, mỗi năm chúng ta có thể ghi nhận (“mức khấu hao”) 1/3 chi phí, hoặc mỗi tháng 1/36 chi phí, bằng một phương pháp tính khấu hao đơn giản. Đây là cách hay để ước tính chi phí thực sự của doanh nghiệp trong một tháng hay một năm bất kỳ, thay vì ghi nhận một lần toàn bộ chi phí. Không chỉ có vậy, cách này còn giúp chi phí cho thiết bị phù hợp với doanh thu mà thiết bị đó tạo ra − đây là ý tưởng quan trọng mà chúng ta sẽ khảo sát sâu hơn trong chương 4.

Khấu hao

Khấu hao (depreciation) là phương pháp được các kế toán viên sử dụng để phân bổ chi phí trang thiết bị và các tài sản khác vào tổng giá thành cho sản phẩm và dịch vụ, như được thể hiện trong báo cáo kết quả kinh doanh.

Khấu hao cũng dựa trên ý tưởng tương tự như chi phí trả trước: chúng ta muốn làm cho chi phí sản xuất và dịch vụ phù hợp với những gì chúng ta đã bán hết sức có thể. Hầu hết các khoản chi phí đầu tư cơ bản đều được khấu hao (đất đai là ví dụ về chi phí đầu tư cơ bản không khấu hao). Nhân viên kế toán cố gắng trải đều chi phí đầu tư cơ bản lên tuổi đời hữu dụng của thiết bị. Chúng tôi sẽ nói rõ hơn về khấu hao ở Phần 2 và Phần 3.

Lý thuyết này hết sức hợp lý. Tuy nhiên, trên thực tế, các kế toán viên có quyền tự quyết đáng kể đối với chính xác là nên tính khấu hao bao nhiêu cho một thiết bị. Và quyền tự quyết đó có thể có tác động to lớn. Hãy lấy ngành công nghiệp hàng không làm ví dụ. Cách đây vài năm, các hãng hàng không nhận ra rằng máy bay của họ có tuổi đời hoạt động lâu hơn dự kiến. Vì vậy, các kế toán viên của ngành đã thay đổi bảng khấu hao để phản ánh tuổi đời dài hơn. Kết quả là, họ trừ đi mức khấu hao thấp hơn từ doanh thu mỗi tháng. Và hãy đoán xem điều gì đã xảy ra? Lợi nhuận ngành tăng đáng kể, phản ánh thực tế rằng các hãng hàng không sẽ không phải mua mới máy bay sớm như dự kiến. Nhưng cần lưu ý rằng, các kế toán viên đã phải giả định họ có thể dự đoán tuổi thọ hữu dụng của một chiếc máy bay. Bám vào phán đoán đó, và bản chất của một phán đoán chính là định kiến tăng trưởng cho lợi nhuận. Cũng bám vào phán đoán đó là mọi tác động: nhà đầu tư quyết định mua nhiều cổ phiếu hơn, các vị giám đốc điều hành của các hãng hàng không tính toán thấy khả năng có thể tăng lương hậu hĩnh hơn, v.v…

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ

Ví dụ cuối cùng về nghệ thuật tài chính liên quan đến việc định giá một doanh nghiệp − nghĩa là, tính toán xem doanh nghiệp đó đáng giá bao nhiêu. Hiển nhiên, những doanh nghiệp có cổ phần mua bán tự do sẽ được định giá mỗi ngày bởi thị trường chứng khoán. Giá trị của doanh nghiệp sẽ bằng giá cổ phiếu bất kể là bao nhiêu nhân với số lượng cổ phiếu lưu hành, con số này được gọi là giá trị vốn hóa thị trường (market capitalization hay market cap). Nhưng trong những hoàn cảnh nhất định, ngay cả con số này không phải lúc nào cũng thể hiện hết giá trị của doanh nghiệp. Ví dụ, một đối thủ cạnh tranh với khuynh hướng thôn tính có thể quyết định mua lại cổ phiếu của doanh nghiệp với giá cao, bởi doanh nghiệp mục tiêu đáng giá với nó hơn với thị trường chứng khoán. Và tất nhiên, có hàng triệu doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân không hề có giá trị trên thị trường. Khi mua hoặc bán chúng, người bán và mua phải dựa vào các phương pháp định giá khác.

Nói về nghệ thuật tài chính: phần lớn khía cạnh nghệ thuật ở đây nằm ở việc lựa chọn phương pháp định giá. Các phương pháp khác nhau sẽ cho ra những kết quả khác nhau − những kết quả mà, hẳn nhiên, sẽ tiêm nhiễm định kiến vào các con số.

Chẳng hạn, giả sử công ty của bạn đề xuất mua lại một nhà sản xuất van công nghiệp có cổ phần nằm chủ yếu trong tay một số ít cổ đông. Công ty này rất phù hợp với công ty bạn – đây là một vụ mua lại “chiến lược” – nhưng bạn nên trả bao nhiêu thì hợp lý? Chà, bạn có thể nhìn vào lợi nhuận của công ty van này, rồi lên thị trường chứng khoán để xem thị trường định giá những công ty tương tự ra sao trong mối tương quan với lợi nhuận của chúng. (Đây là phương pháp tỷ suất giá trên lợi nhuận). Hoặc bạn cũng có thể nhìn vào số tiền mặt mà công ty van đó tạo ra mỗi năm, và hình dung thực tế là bạn đang mua dòng tiền đó. Sau đó, bạn sẽ sử dụng một mức lãi suất nào đó để xác định dòng tiền tương lai đó có giá trị bao nhiêu ở thời điểm hiện tại. (Đây là phương pháp chiết giảm dòng tiền). Ngoài ra, bạn có thể đơn giản nhìn vào tài sản của công ty − máy móc, thiết bị, hàng lưu kho, v.v… cùng với các tài sản vô hình như danh tiếng của công ty và danh sách khách hàng − để ước tính giá trị (phương pháp định giá tài sản).

Hẳn nhiên, mỗi phương pháp lại đòi hỏi một tập những giả định và ước tính. Ví dụ, phương pháp tỷ suất giá trên lợi nhuận giả định rằng thị trường chứng khoán khá duy lý, do đó mức giá mà nó xác lập sẽ chính xác. Nhưng tất nhiên, thị trường không phải lúc nào cũng duy lý; khi thị trường sốt giá, giá của công ty mục tiêu sẽ cao hơn so với khi thị trường trầm lắng. Bên cạnh đó, bản thân con số “lợi nhuận”, như chúng ta sẽ thấy ở Phần 2, cũng chỉ là một ước tính mà thôi.

Có lẽ vì thế bạn sẽ cho rằng chúng ta nên dùng phương pháp chiết giảm dòng tiền. Vấn đề với phương pháp này là, đâu là mức lãi suất hay mức “chiết giảm” chuẩn để sử dụng khi tính toán giá trị dòng tiền? Tùy theo mức chúng ta xác lập, giá có thể rất khác nhau. Và tất nhiên, bản thân phương pháp định giá tài sản cũng chỉ thuần tuý là một tập hợp những dự đoán về giá trị của từng tài sản.

Cứ như thể là những yếu tố bất định này vẫn còn chưa đủ, chúng ta hãy nhớ lại thời kỳ thú vị, quá khích và căng thẳng được biết đến với tên gọi “sự bùng nổ dot-com” diễn ra cuối thế kỷ XX. Những công ty Internet non trẻ và đầy tham vọng đã bật dậy mạnh mẽ, nhờ được tưới tắm và nuôi dưỡng bởi luồng vốn đầu tư mạo hiểm ồ ạt. Nhưng khi những nhà đầu tư là chuyên gia đầu cơ bỏ tiền vào đâu đó, họ sẽ muốn biết khoản đầu tư – và do vậy là công ty – đáng giá bao nhiêu. Khi công ty mới khởi nghiệp, thật khó để xác định điều này. Lợi nhuận? Bằng 0. Dòng tiền hoạt động cũng bằng 0. Và tài sản không đáng kể.

Trong những thời điểm bình thường, đây là một trong những lý do tại sao các chuyên gia đầu cơ ngần ngại đầu tư cho những doanh nghiệp đang ở giai đoạn đầu. Nhưng trong kỷ nguyên dot-com, họ đã tung hê sự thận trọng, họ dựa vào thứ mà chúng ta chỉ có thể gọi là phương pháp định giá khác thường. Họ nhìn vào số kỹ sư trong biên chế công ty. Họ đếm lượng truy cập trang web (“nhãn cầu”) mà công ty đạt được mỗi tháng. Một CEO trẻ tuổi và năng động mà chúng tôi biết đã huy động được hàng triệu đô-la hầu như chỉ nhờ việc anh ta có trong tay một đội ngũ kỹ sư máy tính hùng hậu. Nhưng tiếc thay, chưa đầy một năm sau, chúng tôi đã nhìn thấy tấm biển “Cho thuê” ngay trước văn phòng công ty này.

Bây giờ thì các phương pháp định giá kiểu dot-com trông có vẻ ngu ngốc, dù ở thời điểm trước đó, với thông tin ít ỏi mà chúng ta biết về những điều tương lai nắm giữ, chúng không đến nỗi tệ như vậy. Nhưng các phương pháp còn lại đều có lý. Vấn đề là, mỗi phương pháp đều có một định kiến đưa đến những kết quả khác nhau. Và các tác động luôn có ảnh hưởng sâu rộng. Các doanh nghiệp được mua và bán dựa trên những phương pháp định giá này. Các khoản vay nợ cũng dựa trên đây. Nếu bạn nắm giữ cổ phiếu của một doanh nghiệp, thì giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp đó phụ thuộc vào một phép định giá phù hợp. Theo chúng tôi thấy, trí tuệ tài chính của bạn cần bao gồm hiểu biết về cách thức tính toán những con số này.

-Karen Berman & Joe Knight, John Case-

Bình luận