Tài sản là gì ? Có các loại tài sản nào?

15:18 07/13/2018

Thêm các ước tính và giả định (Trừ tiền mặt)

Tài sản là những gì doanh nghiệp sở hữu, gồm tiền mặt và chứng khoán,  máy móc và thiết bị, nhà xưởng và đất đai, hay bất kỳ thứ gì. Tài sản ngắn hạn (current asset), thường xuất hiện trước nhất trên bảng cân đối kế toán, bao gồm bất kỳ thứ gì có thể chuyển đổi thành tiền mặt trong thời gian lâu nhất là một năm. Tài sản dài hạn (long-term asset) là những tài sản có tuổi đời sử dụng lâu hơn một năm.

CÁC LOẠI TÀI SẢN

Nằm trong những hạng mục tổng quát như vậy tất nhiên là rất nhiều khoản mục. Chúng tôi sẽ liệt kê ra đây những khoản mục phổ biến nhất − những khoản mục xuất hiện trong bảng cân đối kế toán của gần như mọi doanh nghiệp.

Tiền và các khoản tương đương tiền

Đây là thứ dễ tác động đến sức khỏe doanh nghiệp. Tiền gửi ngân hàng. Tiền nằm trong các tài khoản trên thị trường tiền tệ. Cả cổ phiếu và trái phiếu mua bán trên thị trường − loại mà khi cần, có thể chuyển đổi thành tiền trong chưa đầy một ngày. Hạng mục này còn có một cái tên khác là tài sản lưu động (liquid asset). Đây là một trong số ít những khoản mục không phụ thuộc vào quyền tự quyết của kế toán viên. Khi Microsoft cho biết mình có 56 tỷ đô-la, hay bất kể con số mới nhất nào, tiền mặt và các khoản đầu tư ngắn hạn, thì điều đó có nghĩa là họ thật sự có chừng đó tiền trong tài khoản ngân hàng, các quỹ tiền mặt và chứng khoán giao dịch công khai. Dĩ nhiên, các doanh nghiệp cũng có thể khai khống. Công ty Parmalat khổng lồ của Ý đã báo cáo khống trên bảng cân đối kế toán rằng họ có hàng tỷ đô-la trong một tài khoản ở Ngân hàng Mỹ.

Các khoản phải thu, hay A/R (accounts receivable)

Đây là số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp. Hãy nhớ, doanh thu là một khoản được hứa thanh toán, nên các khoản phải thu bao gồm tất cả những hứa hẹn thanh toán chưa được thu về. Tại sao khoản này cũng là một tài sản? Vì tất cả, hoặc hầu hết, các cam kết này sẽ sớm chuyển đổi thành tiền mặt và sẽ sớm thuộc về doanh nghiệp. Nó giống như một khoản mà doanh nghiệp cho khách hàng vay − và doanh nghiệp sở hữu các khoản nợ phải trả của khách hàng. Các khoản phải thu là khoản mục mà nhà quản lý cần theo dõi sát sao, đặc biệt là khi nhà đầu tư, nhà phân tích và các chủ nợ có thể cũng đang theo dõi chúng. Chúng tôi sẽ nói thêm về phương pháp quản lý các khoản phải thu trong Phần VII, khi bàn về vốn lưu động (working capital).

Đôi khi bảng cân đối cũng có một mục gọi là “dự phòng nợ xấu,” được trừ vào các khoản phải thu. Đây là ước tính của kế toán viên − thường là dựa trên kinh nghiệm đã có − về khoản nợ của những khách hàng không thanh toán hóa đơn. Ở nhiều doanh nghiệp, việc trừ đi một khoản dự phòng nợ xấu cho ta thấy một diện mạo chính xác hơn về giá trị của các khoản phải thu.

Nhưng cũng cần lưu ý: các khoản dự phòng đó chứa đầy các ước tính. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp còn sử dụng khoản dự phòng nợ xấu như một công cụ để “chuốt” thu nhập. Khi tăng khoản dự phòng nợ xấu trên bảng cân đối kế toán, bạn sẽ phải ghi nhận một khoản phải chi trừ vào lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh doanh. Việc làm này làm giảm con số thu nhập trên báo cáo. Tương tự như vậy, nếu bạn kê giảm khoản dự phòng nợ xấu, thì điều chỉnh này sẽ làm tăng lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh doanh. Vì khoản dự phòng nợ xấu luôn là ước tính, nên ở đây luôn có chỗ cho phán đoán chủ quan.

“Chuốt” thu nhập

Bạn ắt sẽ cho rằng Phố Wall thích những cú hích lớn trong lợi nhuận của doanh nghiệp − để đồng nghĩa với việc sẽ có thêm lợi tức cho các cổ đông, đúng không? Nhưng nếu cú hích ấy xảy đến ngoài dự đoán và khó lý giải − và đặc biệt là nếu nó khiến Phố Wall bất ngờ, thì các nhà đầu tư nhiều khả năng sẽ phản ứng tiêu cực, xem đó như một dấu hiệu cảnh bảo rằng ban quản lý mất khả năng kiểm soát tình hình của doanh nghiệp. Bởi lẽ đó, các doanh nghiệp mới muốn “chuốt” lợi nhuận, để duy trì mức tăng trưởng ổn định và trong tầm dự đoán.

Hàng tồn kho

Các công ty dịch vụ thường không có hàng tồn kho, nhưng gần như tất cả các loại hình doanh nghiệp khác − công ty sản xuất, thương mại, bán lẻ − thì đều có. Trong con số tồn kho có một phần là giá trị của những sản phẩm sẵn sàng để bán. Nhóm này được gọi là tồn kho thành phẩm (finished product). Nhóm thứ hai, thường chỉ có ở các công ty sản xuất, là giá trị của những sản phẩm đang được sản xuất. Kế toán viên gọi chúng là tồn kho hàng đang sản xuất, hay tồn kho WIP (work-in-process). Và cuối cùng, đương nhiên, có cả tồn kho những nguyên vật liệu thô sẽ được sử dụng trong sản xuất. Lùi xa một chút, đó chính là tồn kho nguyên vật liệu thô.

hàng tồn kho

Kế toán viên có thể (và quả thật!) dành nhiều ngày nói không dứt về những cách thức định giá hàng tồn kho. Chúng tôi định sẽ không đề cập gì, vì nó không thật sự ảnh hưởng đến công việc của đa số các nhà quản lý. (Tất nhiên, nếu công việc của bạn là quản lý kho, thì cuộc thảo luận của các kế toán viên sẽ ảnh hưởng lớn đến bạn − và nếu thế thì bạn nên tìm một cuốn sách bàn về vấn đề đó). Dù vậy, các phương thức định giá hàng tồn kho khác nhau có thể làm thay đổi đáng kể phía tài sản của bảng cân đối kế toán. Nếu doanh nghiệp thay đổi phương thức định giá hàng tồn trong suốt một năm nhất định, thì việc đó cần được ghi lại trong phần chú thích của bảng cân đối kế toán. Nhiều doanh nghiệp trình bày tỉ mỉ cách họ xác định giá trị hàng tồn kho trong phần chú thích, như tập đoàn Barnes & Noble trong báo cáo thường niên năm 2004:

Hàng tồn kho được ghi nhận thấp hơn giá thành lẫn giá thị trường. Giá thành được xác định chủ yếu bằng phương pháp kiểm kê bán lẻ trên cơ sở nhập trước xuất trước (FIFO) đối với 92% hàng tồn kho của công ty tính đến ngày 29 tháng Một năm 2005 và 90% hàng tồn kho tính đến ngày 31 tháng Một năm 2004, và được ghi nhận dựa trên phương pháp giá thành bình quân. Số hàng tồn kho còn lại được định giá bằng công thức nhập sau xuất trước (LIFO).

Tuy vậy, những gì bạn cần nhớ ở vai trò nhà quản lý là tất cả hàng tồn kho đều tốn kém. Trên thực tế, đây là một cách giúp doanh nghiệp cải thiện tình hình tiền mặt của mình. Nếu các yếu tố khác không đổi, việc giảm lượng hàng tồn kho sẽ giúp bạn nâng mức tiền mặt của công ty mình. Các doanh nghiệp luôn muốn giữ hàng tồn kho ở mức thấp nhất có thể, miễn là cung cấp đủ nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất và đủ sản phẩm khi khách hàng đặt mua. Chúng tôi sẽ trở lại với chủ đề này ở phần sau của cuốn.

Đất đai, nhà xưởng và thiết bị (PPE)

Dòng này trên bảng cân đối kế toán bao gồm nhà xưởng, máy móc, xe tải, máy tính và tất cả những tài sản vật chất khác mà doanh nghiệp sở hữu. Số liệu PPE (Property, Plant, and Equipment) là tổng số tiền doanh nghiệp bỏ ra để mua những cơ sở vật chất và trang thiết bị cần thiết cho công tác vận hành doanh nghiệp. Lưu ý rằng chi phí liên quan ở đây là giá mua (purchase price). Nếu không đánh giá liên tục, sẽ không ai thực sự biết bất động sản và thiết bị của doanh nghiệp có giá bao nhiêu trên thị trường mở. Bởi lẽ đó, trên thực tế, các kế toán viên, vốn bị chi phối bởi các nguyên tắc thận trọng, thường nói: “Cứ sử dụng những gì chúng ta biết rõ, đó là chi phí mua tài sản.”

nhà xưởng

Một lý do khác cho việc sử dụng giá mua là để tránh tạo thêm cơ hội lồng định kiến vào số liệu. Giả sử một tài sản − như đất đai chẳng hạn − quả thật đã tăng giá trị. Nếu muốn “đánh dấu tăng trưởng” giá trị hiện thời của nó trên bảng cân đối kế toán, chúng ta sẽ phải ghi nhận một khoản lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh doanh. Nhưng khoản lợi nhuận đó sẽ không chỉ đơn thuần dựa trên ý kiến của một ai đó về giá trị của mảnh đất ngày hôm nay. Đó không phải là một ý hay. Một số doanh nghiệp − hãy nhớ lại trường hợp Enron − đã đi quá xa khi dựng lên những vỏ bọc, đặt dưới sự sở hữu của các nhà điều hành cấp cao hoặc các thành viên khác trong công ty, và rồi bán tài sản cho những vỏ bọc đó. Việc đó cho phép họ ghi nhận lợi nhuận, cứ như thể họ đã thực sự bán các tài sản. Nhưng đó không phải là kiểu lợi  nhuận mà các nhà đầu tư hoặc Ủy ban Chứng khoán Mỹ thích nhìn thấy.

Tất nhiên, việc các doanh nghiệp phải dựa trên giá mua để định giá tài sản có thể tạo ra một số điểm hết sức bất thường. Cứ thử tưởng tượng, bạn làm việc cho một công ty giải trí 30 năm trước mua được một số đất đai quanh thành phố Los Angeles với giá 500.000 đô-la. Đến nay số đất đai đó có thể trị giá 5 triệu đô-la − nhưng nó sẽ vẫn được định giá là 500.000 đô-la trên bảng cân đối kế toán. Các nhà đầu tư sành sỏi thích sục sạo quanh bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, với hi vọng tìm thấy những “tài sản bị định giá thấp” kiểu như thế.

Trừ: khấu hao lũy kế

Đất đai sẽ không bị hao mòn, nên kế toán viên không ghi nhận khoản khấu hao hàng năm cho tài sản này. Nhưng nhà xưởng và thiết bị thì có. Dù vậy, điểm mấu chốt của công tác khấu hao kế toán lại không phải là ước tính xem ngay tại thời điểm hiện tại, nhà xưởng và thiết bị có giá trị bao nhiêu; mà quan trọng là phải phân bổ nguồn vốn đầu tư cho tài sản đó xuyên suốt thời gian doanh nghiệp sử dụng nó để tạo ra doanh thu và lợi nhuận (hãy nhớ lại nguyên tắc phù hợp ở chương 4). Khấu hao là một cách để đảm bảo rằng báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh chính xác chi phí sản xuất, dịch vụ thực tế. Để tính được khấu hao lũy kế, các kế toán viên chỉ cần cộng tổng tất cả các khoản phí khấu hao tính từ ngày mua tài sản.

Trong chương trước, chúng tôi đã chỉ cho các bạn thấy cách thức một doanh nghiệp có thể “hô biến” từ không có lợi nhuận thành có lợi nhuận, chỉ bằng việc thay đổi phương thức khấu hao tài sản. Trò ảo thuật nghệ-thuật- tài-chính này đã lan cả sang bảng cân đối kế toán. Nếu một doanh nghiệp quyết định đội xe tải của mình có thể hoạt động đến tận sáu năm thay vì ba năm, họ sẽ ghi nhận mức chi phí khấu hao thấp hơn đến một nửa trên báo cáo kết quả kinh doanh từ năm này qua năm khác. Điều đó nghĩa là khoản khấu hao lũy kế trên bảng cân đối kế toán sẽ giảm, PPE thuần sẽ cao hơn, và do vậy tài sản của doanh nghiệp sẽ nhiều hơn. Và theo phương trình kế toán cơ bản, nhiều tài sản hơn đồng nghĩa với việc nhiều vốn chủ sở hữu hơn.

Lợi thế thương mại

Lợi thế thương mại thường xuất hiện trên bảng cân đối kế toán của những doanh nghiệp mua lại doanh nghiệp khác. Đó là con số chênh lệch giữa giá mua doanh nghiệp và giá trị tài sản thuần mà bên mua nhận được. (Xin nhắc lại, tài sản thuần là giá trị thị trường của tài sản thuộc về bên được mua trừ đi công nợ mà bên mua phải gánh).

Ý niệm này nghe có vẻ phức tạp, nhưng thực tế thì không phải vậy. Hãy cứ tưởng tượng bạn là CEO của một công ty đi mua, và bạn phát hiện ra một doanh nghiệp nhỏ, hoạt động ổn định trong lĩnh vực kho vận, tên là MJQ Storage, hết sức phù hợp với nhu cầu của bạn. Bạn đồng ý mua lại MJQ với giá 5 triệu đô-la. Theo nguyên tắc kế toán, nếu bạn thanh toán bằng tiền mặt, thì tài sản tiền mặt trên bảng cân đối kế toán của bạn sẽ giảm 5 triệu đô-la. Điều đó có nghĩa là những tài sản khác sẽ phải tăng 5 triệu đô-la. Cuối cùng, bảng cân đối kế toán vẫn cân đối. Và đến lúc này, bạn vẫn không làm gì quá đáng đến mức làm biến động nợ và vốn chủ sở hữu.

Và giờ hãy quan sát kỹ hơn. Vì bạn đang định mua một tổ hợp các tài sản hữu hình (cùng các tài sản khác), nên bạn sẽ phải thẩm định những tài sản đó như tất cả những người mua khác. Có lẽ bạn sẽ quyết định rằng các công trình của MJQ, kệ hàng, xe nâng và máy tính, tất cả trị giá 2 triệu đô-la, sau khi trừ đi mọi khoản nợ mà bạn phải gánh. Điều này không có nghĩa là bạn bị thiệt. Bạn đang mua một doanh nghiệp hoạt động, có tên tuổi, danh sách khách hàng, những nhân viên tài năng và hiểu biết, v.v…, và trong một số trường hợp, những tài sản vô hình này có thể còn giá trị hơn nhiều so với các tài sản hữu hình. (Bạn sẽ trả bao nhiêu để có thể sở hữu thương hiệu Coca- Cola? Hay danh sách khách hàng của hãng Dell?). Trong ví dụ của chúng tôi, bạn đang mua khối tài sản vô hình trị giá 3 triệu đô-la. Các kế toán viên gọi 3 triệu đô-la đó là “lợi thế thương mại”. 3 triệu đô-la lợi thế thương mại và 2 triệu đô-la tài sản vật chất cộng tổng lại sẽ thành con số 5 triệu đô-la mà bạn đã bỏ ra, và khoản tăng tương ứng 5 triệu đô-la trong dòng tài sản của bảng cân đối kế toán.

Mua lại

Mua lại (acquisition) diễn ra khi một doanh nghiệp mua một doanh

nghiệp khác. Thông thường, bạn sẽ bắt gặp trên các báo những từ như sáp nhập (merger) hoặc hợp nhất (consolidation). Chớ để bị mắc lừa: đó vẫn chỉ là chuyện doanh nghiệp này mua doanh nghiệp khác. Họ chỉ sử dụng những thuật ngữ nghe trung tính hơn để giao dịch mua bán trông ổn hơn mà thôi.

Và bây giờ chúng tôi muốn kể một mẩu chuyện nhỏ về lợi thế thương mại; mẩu chuyện này sẽ cho thấy nghệ thuật tài chính được thực hiện như thế nào.

Trong nhiều năm qua, lợi thế thương mại luôn được tính khấu hao. (Nên nhớ, khấu hao tài sản vô hình giống như khấu hao tài sản hữu hình, chỉ khác ở chỗ đối tượng là tài sản vô hình). Các tài sản khác thường được khấu hao trong giai đoạn từ hai đến năm năm, nhưng lợi thế thương mại có thể được khấu hao với thời gian tối đa lên đến 40 năm, hoặc theo tuổi đời hữu dụng ước tính của doanh nghiệp được mua lại.

Tài sản vô hình

Tài sản vô hình (intangible asset) của một doanh nghiệp bao gồm bất kỳ thứ gì có giá trị nhưng lại không thể cầm nắm hay tiêu xài: nhân viên, danh sách khách hàng, kiến thức độc quyền, bằng sáng chế, thương hiệu, danh tiếng, điểm mạnh chiến lược, v.v… Hầu hết các tài sản này sẽ không được kê khai trong bảng cân đối kế toán trừ khi được doanh nghiệp mua và ghi nhận là lợi thế thương mại. Trường hợp ngoại lệ là các sở hữu trí tuệ, như bằng sáng chế và bản quyền. Những khoản này có thể được trình bày trong bảng cân đối kế toán và được khấu hao theo tuổi đời sử dụng.

Sau đó thì nguyên tắc thay đổi. Những người soạn thảo bộ tiêu chuẩn GAAP − Hội đồng Các Tiêu chuẩn Kế toán Tài chính (FASB − Financial Accounting Standards Board) − quyết định rằng nếu lợi thế thương mại bao gồm danh tiếng, cơ sở khách hàng và những tài sản tương tự của doanh nghiệp được mua, thì chúng không mất đi giá trị theo thời gian. Chúng thậm chí có thể tăng giá trị. Nói tóm lại, lợi thế thương mại giống đất đai hơn là trang thiết bị. Thế nên, việc không khấu hao lợi thế thương mại sẽ giúp các kế toán viên khắc họa được hình ảnh chính xác của hiện thực mà họ luôn tìm kiếm.

Nhưng hãy xem hệ quả. Khi bạn mua MJQ Storage, bạn chịu chi một khoản 3 triệu đô-la cho lợi thế thương mại trên bảng cân đối kế toán, và cứ giả sử bạn ước tính MJQ có thể tồn tại 30 năm. Trước khi luật thay đổi, bạn tính khấu hao tài sản này trong 30 năm với mức 100.000 đô-la mỗi năm. Nói cách khác, mỗi năm bạn sẽ trừ 100.000 đô-la khỏi doanh thu, và vì thế lợi nhuận của công ty bạn cũng giảm đi từng ấy. Cùng lúc đó, bạn cũng khấu hao tài sản vật chất của MJQ trong thời gian, chẳng hạn là, bốn năm với mức

500.000 đô-la một năm. Như vậy, 500.000 đô-la này cũng sẽ được trừ vào doanh thu để xác định lợi nhuận.

Vậy thì điều gì sẽ xảy ra? Trước khi luật thay đổi và trong điều kiện mọi yếu tố khác đều không đổi, bạn sẽ muốn có nhiều lợi thế thương mại, và ít  tài sản hữu hình, đơn giản là vì lợi thế thương mại được tính hao mòn trong giai đoạn dài hơi hơn, nên số tiền phải trừ khỏi doanh thu để xác định lợi nhuận sẽ giảm (giữ lợi nhuận ở mức cao hơn). Bạn có động cơ tìm mua các doanh nghiệp, mà trong đó thứ được mua chủ yếu là lợi thế thương mại, và bạn có động cơ để định giá thấp tài sản vật chất của doanh nghiệp định mua. (Đừng quên, chính bạn và người của mình là người định giá cho những tài sản ấy!)

Với luật mới, lợi thế thương mại ở lì trên sổ sách và không bị khấu hao. Không có khoản nào bị trừ vào doanh thu, và lợi nhuận vì thế còn cao hơn. Giờ thì thậm chí bạn còn có động cơ lớn hơn cho việc tìm kiếm những doanh nghiệp có ít tài sản hữu hình, và động cơ lớn hơn nữa cho việc định giá thấp các tài sản ấy. Tyco là một trong những công ty bị cáo buộc là đã lợi dụng quy tắc này. Như chúng tôi đã trình bày ở phần trước, trong riêng hai năm liên tiếp, năm 2000 và 2001, Tyco đã tiến hành mua lại với tốc độ chóng mặt

−   hơn 600 công ty. Nhiều nhà phân tích nhận thấy Tyco thường xuyên định giá thấp tài sản của những công ty mua lại. Việc làm này gia tăng lợi thế thương mại của tất cả các giao dịch mua lại, và làm giảm khoản khấu hao mà Tyco phải chịu mỗi năm. Đến lượt, điều này khiến lợi nhuận tăng thêm và đẩy giá cổ phiếu của Tyco lên cao.

Nhưng suy cho cùng, các nhà phân tích và các nhà đầu tư đều nhận thấy một thực tế mà chúng tôi đã nói ở Phần I, cụ thể là Tyco đã có quá nhiều lợi thế thương mại trên sổ sách và quá ít (nói một cách tương đối) tài sản hữu hình, và nếu bạn gạt lợi thế thương mại ra khỏi phương trình của bảng cân đối kế toán, thì các khoản nợ của công ty thực chất lại lớn hơn tài sản. Đây hẳn nhiên không phải là tình huống mà các nhà đầu tư muốn nhìn thấy.

Sở hữu trí tuệ, bằng sáng chế và các tài sản vô hình khác

Bạn sẽ giải trình thế nào đối với chi phí phát triển chương trình phần mềm mới mà bạn kỳ vọng là sẽ tạo ra doanh thu trong những năm tới? Và chi phí phát triển một phương thuốc thần kỳ, được bảo hộ bởi bằng sáng chế có thời hạn 20 năm (kể từ ngày đăng ký) thì sao? Rõ ràng là sẽ bất hợp lý nếu ghi nhận toàn bộ chi phí như một khoản phải trả trên báo cáo kết quả kinh doanh trong bất kỳ một giai đoạn nào, cũng tương tự như sự bất hợp lý khi ghi nhận toàn bộ chi phí cho chiếc xe tải vào một lần. Cũng như chiếc xe tải, phần mềm và bằng sáng chế sẽ giúp tạo ra doanh thu trong nhiều kỳ kế toán về sau.

Thế nên, những khoản đầu tư này phải được xét như các tài sản vô hình và phải được khấu hao xuyên suốt thời gian mà chúng tạo ra doanh thu. Tuy vậy cũng bởi lý do đó, những khoản chi nghiên cứu và phát triển mà không cho ra một tài sản có thể tạo doanh thu phải được ghi nhận như một khoản phải chi trên báo cáo kết quả kinh doanh.

Bạn có thể thấy tiềm năng cho tính chủ quan ở ngay đây. Theo bộ tiêu chuẩn GAAP, chi phí R&D có thể được khấu hao nếu sản phẩm phát triển khả thi về mặt công nghệ. Nhưng ai sẽ xác định tính khả thi công nghệ đó? Một lần nữa, chúng ta lại quay trở về địa hạt của nghệ thuật. Nếu một doanh nghiệp quyết định rằng dự án R&D khả thi về công nghệ, họ có thể khấu hao tổng chi phí theo thời gian và làm cho lợi nhuận trông có vẻ cao hơn.

Ngược lại, họ phải ghi nhận các chi phí R&D khi chúng phát sinh − đây là cách tiếp cận thận trọng hơn. Computer Associates đã tự chuốc lấy rắc rối khi khấu hao chi phí R&D của những sản phẩm không có tương lai chắc chắn. Cũng như công tác khấu hao tài sản hữu hình, các quyết định khấu hao tài sản vô hình cũng thường có ảnh hưởng to lớn đến khả năng sinh lời và vốn chủ sở hữu.

Các khoản trả trước và tài sản trả trước

Để giải thích cho khoản mục này, chúng ta hãy xem một ví dụ nhỏ. Hãy tưởng tượng bạn đang khởi sự một công ty sản xuất xe đạp, và bạn thuê mặt bằng sản xuất cả năm hết 60.000 đô-la. Vì công ty bạn là một rủi ro tín dụng xấu − không ai muốn làm ăn với một doanh nghiệp mới cũng bởi lý do này, nên người chủ sở hữu khăng khăng đòi thu trước tiền thuê mặt bằng.

Theo nguyên tắc phù hợp, chúng ta biết việc “ghi sổ” toàn bộ 60.000 đô- la như một chi phí trên báo cáo kết quả kinh doanh tháng Một là vô lý. Đó là tiền thuê mặt bằng cả năm. Nó cần phải được rải đều ra cả năm, như thế chi phí thuê mặt bằng mới phù hợp với doanh thu mà nó giúp mang lại. Thế nên trong báo cáo kết quả kinh doanh tháng Một, bạn chỉ ghi chi phí thuê mặt bằng là 5.000 đô-la. Vậy 55.000 đô-la còn lại sẽ đi đâu? Bạn phải theo dõi  nó ở đâu đó. Vậy đấy, tiền thuê trả trước là một ví dụ về tài sản trả trước. Bạn mua thứ gì đó − bạn có quyền sử dụng nó một năm − nên nó là tài sản. Và bạn sẽ theo dõi nó trên bảng cân đối kế toán.

Mỗi tháng, đương nhiên, bạn sẽ phải cắt chuyển 5.000 đô-la ra khỏi dòng tài sản trả trước trên bảng cân đối kế toán, và đưa nó vào báo cáo kết quả kinh doanh dưới dạng khoản tiền thuê. Đó là chi phí trả trước, và “mục kê khai” được dùng để ghi nhận những khoản chưa chi trên bảng cân đối kế toán được gọi là tài sản trả trước. Dù các thuật ngữ này không dễ hiểu, nhưng hãy lưu ý rằng phương pháp thực hành vẫn tuân theo nguyên tắc thận trọng: chúng ta theo dõi tất cả các khoản chi đã biết, và chúng ta cũng theo sát những gì mình trả trước.

Tuy nhiên, nghệ thuật tài chính có thể len vào đây, vì vẫn có chỗ cho phán đoán về cái gì cần trả trước và cái gì cần ghi sổ trong một kỳ cụ thể. Chẳng hạn, giả sử công ty bạn đang lên một chiến dịch quảng cáo rầm rộ. Toàn bộ công việc hoàn tất vào tháng Một, và phí tổn lên đến 1 triệu đô-la. Các kế toán viên có thể quyết định rằng chiến dịch này sẽ mang lại lợi ích cho công ty trong hai năm, nên họ sẽ ghi sổ 1 triệu đô-la đó như tài sản trả trước, và ghi nhận 1/24 chi phí vào báo cáo kết quả kinh doanh mỗi tháng.

Một doanh nghiệp đang có một tháng khó khăn có thể quyết định rằng đây là hướng đi đúng đắn nhất − nói cho cùng thì trừ dần 1/24 của 1 triệu đô-la khỏi lợi nhuận vẫn tốt hơn là trừ một lần cả 1 triệu đô-la. Nhưng sẽ thế nào nếu tháng Một là tháng hoạt động tuyệt vời? Công ty có thể quyết định “ghi chi phí” của cả chiến dịch − trừ tất cả vào doanh thu tháng Một − vì, thì đấy, họ không biết chắc chiến dịch có giúp tạo ra doanh thu trong hai năm tới không. Hiện tại, họ có một chiến dịch quảng cáo đã được thanh toán toàn bộ, và lợi nhuận trong các tháng sắp tới sẽ tăng lên tương ứng.

Trong một thế giới hoàn hảo, các kế toán viên của chúng ta sẽ có một quả cầu thủy tinh cho phép tiên đoán chính xác chiến dịch quảng cáo có thể mang lại doanh thu trong bao lâu. Nhưng vì chưa có một công cụ như thế, nên họ buộc phải dựa vào các ước tính.

Vâng, đó là những gì về tài sản. Cộng tổng tất cả lại với nhau, cùng với bất kỳ khoản mục nào khác mà bạn tìm thấy, bạn sẽ ra được “tổng tài sản” ở dòng cuối cùng của bên trái bảng cân đối. Bây giờ là lúc chuyển sang bên còn lại − nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.

-Karen Berman & Joe Knight, John Case-

Bình luận