PHÁ GIẢI BỘ MÃ CỦA BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH

14:57 07/13/2018

Hãy chú ý đến hạn từ mà chúng tôi sử dụng ở tiêu đề chương: bộ mã (code). Không may là báo cáo kết quả kinh doanh thường xuyên trông như một bộ mã cần được phá giải.

Lý do là như sau. Trong những cuốn sách như cuốn sách này − và thậm chí trong các phần sau của cuốn sách, bạn sẽ thường thấy những mẩu báo cáo kết quả kinh doanh nho nhỏ dễ thương như sau:

Doanh thu

100

đô-la

Giá vốn hàng bán

50

 

Lợi nhuận gộp

50

 

Chi phí

30

 

Thuế

5

 

Lợi nhuận thuần

15

đô-la


Một cô bé lớp 4 sáng dạ cũng có thể hiểu ngay bài toán này mà không cần chỉ bảo quá nhiều, trừ một chút giảng giải về định nghĩa. Có khi cô bé còn chẳng cần đến máy tính. Nhưng giờ chúng ta hãy cùng xem một báo cáo kết quả kinh doanh thực tế − của chính công ty bạn hoặc báo cáo mà bạn tìm thấy trong báo cáo thường niên của công ty khác.

Nếu là bản chi tiết, báo cáo đó có thể kéo dài nhiều trang − từng hàng từng hàng số liệu, thường được in nhỏ tới mức chỉ vừa đủ đọc. Thậm chí nếu là một báo cáo “hợp nhất” như những gì bạn tìm được trong các báo cáo thường niên, nó còn có thể chứa tất cả những dòng với các nhãn tên khó hiểu như “đầu tư kinh doanh/đầu tư khác” (báo cáo của IBM), hay “ bộ phận chứng khoán hóa thanh khoản hợp nhất” (báo cáo của General Electric). Và thế là đủ khiến bất kỳ ai không phải là chuyên gia tài chính than trời trong vô vọng.

Vì vậy, hãy kiên nhẫn chịu đựng cùng chúng tôi khi chúng ta tìm hiểu một số thủ tục đơn giản để cuộn mình vào một báo cáo kết quả kinh doanh. Nâng cao trí tuệ tài chính không nên đi cùng cảm giác đau tim, và việc học từng bước như thế này có thể cứu bạn thoát khỏi điều đó.

ĐỌC BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH

Trước khi bắt đầu nghiền ngẫm các con số, bạn sẽ cần bối cảnh để hiểu các tài liệu.

Nhãn tên

Trên đầu báo cáo có dòng chữ “báo cáo kết quả kinh doanh” không? Có thể không. Thay vào đó, nó có thể có dòng chữ “báo cáo lãi lỗ” (profit and loss statement hay P&L statement), “báo cáo hoạt động kinh doanh” (operating statement hay statement of operations), “báo cáo thu nhập” (statement of earnings hay earnings statement).

Thường thì còn có thêm từ hợp nhất (consolidated) đi cùng các cụm từ này. Chúng tôi từng làm việc với một khách hàng gọi báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo lợi nhuận trong báo cáo thường niên của mình. Trong khi đó, một bộ phận của công ty này lại gọi nó đúng như cái tên báo cáo kết quả kinh doanh, còn bộ phận khác lại dùng cái tên báo cáo lãi lỗ.

Với việc tất cả các thuật ngữ trên cùng chỉ một thứ, một người có thể đi đến kết luận rằng, những đồng nghiệp ở phòng tài chính − kế toán không hề muốn chúng ta biết chuyện gì đang xảy ra. Hoặc  có thể họ chỉ mặc nhiên cho rằng ai cũng biết các thuật ngữ ấy đều mang cùng một ý nghĩa. Dù sự thể là thế nào, trong cuốn sách này, chúng tôi sẽ chỉ sử dụng xuyên suốt thuật ngữ báo cáo kết quả kinh doanh (income statement).

Tiện đây cũng xin nói luôn, nếu bạn thấy nhãn tên “bảng cân đối kế toán” (balance sheet) hay “báo cáo lưu chuyển tiền tệ” (cash flow statement) ở dòng trên cùng của một báo cáo bất kỳ, thì tức là bạn đã cầm nhầm tài liệu. Nhãn tên đúng hầu như chỉ sử dụng những cái tên mà chúng tôi đã trình bày ở trên.

Báo cáo kết quả kinh doanh đo lường cái gì?

Đây có phải báo cáo kết quả kinh doanh của cả doanh nghiệp không? Hay chỉ là báo cáo của một bộ phận hoặc một đơn vị kinh doanh? Hay chỉ là của một khu vực nhất định? Các doanh nghiệp lớn thường lập báo cáo kết quả kinh doanh cho các bộ phận khác nhau, đồng thời có báo cáo cho toàn tổ chức.

Trong tác phẩm kinh điển Relevance Lost (tạm dịch: Mất tính thích đáng), H. Thomas Johnson và Robert S. Kaplan đã chia sẻ cách được General Motors dùng để phát triển hệ thống đơn vị của mình trong nửa đầu thế kỷ XX − với báo cáo kết quả kinh doanh cho từng bộ phận. Chúng ta có thể mừng vì tập đoàn này đã làm việc đó. Việc lập báo cáo kết quả kinh doanh cho những đơn vị kinh doanh nhỏ hơn mang lại cho những nhà quản lý các tập đoàn lớn những kiến giải sâu rộng về hoạt động tài chính của cả doanh nghiệp.

Khi xác định được thực thể liên quan, bạn cần kiểm tra kỳ báo cáo. Báo cáo kết quả kinh doanh, cũng như phiếu báo điểm ở trường, luôn áp dụng cho một khoảng thời gian nhất định: một tháng, một quý hoặc một năm, hay có thể là từ một năm nào đó đến thời điểm hiện tại. Một số doanh nghiệp còn lập những báo cáo kết quả kinh doanh cho quãng thời gian ngắn là một tuần.

Tiện đây cũng xin chia sẻ, số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp lớn thường được làm tròn, và những số 0 cuối cùng thường được lược bỏ. Thế nên, bạn hãy dò tìm dòng lưu ý nhỏ ở trên đầu: “triệu” (thêm sáu số 0 vào con số) hoặc “nghìn” (thêm ba số 0). Điều này nghe có vẻ thông thường, và thật ra thì đúng là như vậy. Nhưng kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy, những chi tiết tưởng như tầm thường như vậy thường bị những người mới tiếp cận lĩnh vực tài chính bỏ qua.

Báo cáo kết quả kinh doanh

Phân biệt “thực tế” với “hình thức”

Hầu hết các báo cáo kết quả kinh doanh đều là “thực tế”, và nếu không có thêm một nhãn nào khác, bạn có thể cho rằng đó đúng là những gì bạn đang nhìn thấy. Chúng cho ta biết “trên thực tế” điều gì đang xảy ra với doanh thu, chi phí và lợi nhuận trong kỳ kế toán, theo các quy định kế toán. (Chúng tôi đặt từ “trên thực tế” trong ngoặc kép để nhắc bạn nhớ rằng, bất kỳ một báo cáo kết quả kinh doanh nào về bản chất cũng có những ước tính, giả định và định kiến lồng trong đó, chúng ta sẽ thảo luận kỹ hơn nội dung này ở cuối phần này).

Kế đó, có những báo cáo được gọi là báo cáo kết quả kinh doanh hình thức. Đôi khi hình thức có nghĩa là báo cáo kết quả kinh doanh ấy là một sự phóng chiếu dự kiến. Ví dụ, nếu bạn đang lập kế hoạch cho một hoạt động kinh doanh mới, bạn có thể viết ra một báo cáo kết quả kinh doanh dự kiến cho một hoặc hai năm đầu − nói cách khác là viết ra những gì bạn hi vọng và kỳ vọng sẽ xảy ra trên khía cạnh thu chi. Sự phóng chiếu dự kiến đó được gọi là hình thức (pro forma). Nhưng báo cáo hình thức cũng có thể chỉ một báo cáo kết quả kinh doanh loại trừ tất cả những khoản phí một lần và bất thường. Chẳng hạn, nếu doanh nghiệp phải xử lý một khoản nợ xấu lớn trong một năm cụ thể, gây tổn thất đến kết quả kinh doanh. (Ta sẽ bàn nhiều hơn về chủ đề xử lý nợ xấu ở cuối phần này). Cùng với báo cáo kết quả kinh doanh thực tế, doanh nghiệp có thể phải chuẩn bị thêm một báo cáo cho thấy mọi chuyện sẽ như thế nào nếu không phải xử lý nợ xấu (write-off).

Hãy cẩn thận với loại báo cáo hình thức này! Mục đích bề ngoài của nó có vẻ là để bạn có thể so sánh năm trước (khi chưa xử lý nợ xấu) với năm sau (sau khi xử lý nợ xấu). Nhưng thường có một thông điệp ngầm, đi cùng với câu nói “Này, mọi thứ không đến nỗi tệ như trông vậy đâu − chúng ta chỉ mất tiền vì xử lý nợ xấu thôi.”

Tất nhiên, việc xử lý nợ xấu quả thật đã diễn ra, và công ty quả thật đã mất tiền. Bạn gần như luôn cần xem cả báo cáo thực tế lẫn báo cáo hình thức, và nếu bạn buộc phải chọn một, thì báo cáo thực tế có lẽ là cửa tốt hơn để đặt cược. Những người hoài nghi đôi khi mô tả các báo cáo hình thức như những báo cáo kết quả kinh doanh bày ra toàn bộ thứ tệ hại, mà trên thực tế thỉnh thoảng lắm chúng mới xuất hiện.

Những con số khủng

Bất kể bạn đang xem báo cáo tài chính của công ty nào, trên đó chắc chắn sẽ có ba mục chính. Một là doanh thu hay tổng thu nhập (cả hai cách gọi đều như nhau). Doanh thu luôn nằm ở dòng trên cùng. Khi mọi người đề cập đến “tăng trưởng dòng đầu,” thì tức là mọi người muốn nói đến tăng trưởng doanh thu. Chi phí nằm ở giữa, và lợi nhuận ở dưới cùng. (Nếu bản báo cáo kết quả kinh doanh bạn đang xem là của một tổ chức phi lợi nhuận, thì “lợi nhuận” có thể được ghi là “thặng dư/thâm hụt” hoặc “thu nhập thuần”). Lợi nhuận được chia thành những nhóm nhỏ, được liệt kê theo trình tự − chẳng hạn, lợi nhuận gộp. Chúng tôi sẽ giải thích về tất cả các nhóm này trong chương 8.

Thường thì bạn có thể chỉ ra đâu là điều quan trọng đối với một doanh nghiệp khi nhìn vào những con số lớn nhất liên quan đến doanh thu. Chẳng hạn, sau dòng doanh thu thường là dòng “giá vốn hàng bán”, hay COGS (cost of goods sold). Ở các công ty dịch vụ, dòng này thường được ghi là “giá thành dịch vụ”, hay COS (cost of services). Nếu dòng này chiếm phần lớn doanh thu, bạn có thể cược rằng ban quản lý công ty đang theo dõi COGS hoặc COS rất sát sao. Ở công ty của mình, bạn sẽ cần biết chính xác những gì được bao gồm trong các khoản mục liên quan đến công việc của bản thân. Chẳng hạn, nếu bạn là giám đốc bán hàng, bạn sẽ cần biết chính xác những gì tạo nên khoản mục “chi phí bán hàng”. Như chúng ta sẽ thấy, các kế toán viên có quyền tự quyết nhất định trong cách thức phân loại các chi phí khác nhau.

Tiện đây, xin lưu ý: trừ khi bạn là chuyên gia tài chính, nếu không rất có thể bạn sẽ bỏ qua các khoản mục như “bộ phận chứng khoán hóa thanh khoản hợp nhất”. Dù sao, hầu hết các dòng có nhãn tên kiểu này đều không quá quan trọng với kết quả kinh doanh. Trong trường hợp như vậy, chúng cần được giải thích ở phần chú thích.

Dữ liệu so sánh

Báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất được trình bày trong báo cáo thường niên thường có ba cột số liệu, phản ánh những gì diễn ra trong ba năm gần đó. Báo cáo kết quả kinh doanh nội bộ có thể có nhiều cột số liệu hơn. Chẳng hạn, bạn có thể gặp một báo cáo như sau:

% thực tế/doanh thu       % ngân sách/doanh thu        % chênh lệch Hoặc như sau:

Thực tế giai đoạn trước đó chênh    lệch    tiền    mặt (+/–)

%   chênh lệch

Những bảng số liệu kiểu này có thể gây kinh hãi. Nhưng quả thật chúng không cần phải như vậy.

Ở trường hợp đầu tiên, “% doanh thu” chỉ đơn giản là một cách thể hiện độ lớn của chi phí xét trong tương quan với doanh thu. Dòng doanh thu được coi như là điểm cho trước − điểm cố định − và tất cả mọi thứ khác sẽ được so sánh với nó. Nhiều doanh nghiệp thiết lập mục tiêu %/doanh thu cho những khoản mục nhất định, và ra tay hành động nếu trượt xa khỏi mục tiêu.

Chẳng hạn, có thể các nhà điều hành cấp cao của doanh nghiệp đã quyết định không để chi phí bán hàng vượt quá 12% doanh thu. Nếu chi phí này vượt ra khỏi con số 12%, thì bộ phận bán hàng phải cẩn trọng hơn nữa. Nguyên tắc tương tự cũng áp dụng cho con số ngân sách và chênh lệch. (“Chênh lệch” có nghĩa là sự khác biệt). Nếu con số thực tế vượt xa khỏi ngân sách − tức là, nếu chênh lệch lớn, dứt khoát sẽ có người muốn biết lý do tại sao. Các nhà quản lý hiểu biết về tài chính luôn xác định những con số chênh lệch với ngân sách và tìm hiểu lý do tại sao.

Ở trường hợp thứ hai, báo cáo đơn giản cho ta thấy doanh nghiệp đang hoạt động ra sao so với quý trước hoặc năm trước. Đôi khi điểm so sánh sẽ là “cùng kỳ năm trước”. Một lần nữa, nếu có một con số đi chệch hướng, sẽ có người muốn biết lý do tại sao.

Tóm lại, giá trị của các báo cáo kết quả kinh doanh dạng so sánh là để nêu bật những gì đang thay đổi, con số nào đang theo đúng kỳ vọng và con số nào không.

Chú thích

Báo cáo kết quả kinh doanh nội bộ có thể bao gồm các chú thích hoặc không. Nếu có, thì chúng tôi khuyên bạn nên đọc thật cẩn thận. Chúng có thể cho bạn biết điều gì đó mà các kế toán viên nghĩ rằng mọi người đều nên biết. Các báo cáo kết quả kinh doanh cho đối tác bên ngoài, như những báo cáo đi cùng các báo cáo thường niên, lại hơi khác một chút. Chúng thường gồm nhiều, rất nhiều chú thích. Có thể bạn cần lướt qua chúng: một số có thể thú vị, số khác có thể không.

Tại sao phải đọc tất cả các chú thích? Trong những trường hợp có nghi vấn, các quy tắc kế toán sẽ đòi hỏi nhân viên tài chính phải giải thích làm sao họ có thể cho ra những tổng số như thế. Vì thế, hầu hết các chú thích giống như những cửa sổ cho ta thấy được phương thức tính toán số liệu. Một số chú thích đơn giản và dễ hiểu, chẳng hạn hai chú thích sau đây trong Báo cáo 10-K năm 2004 của Dell (báo cáo thường niên được thực hiện theo Đạo luật Giao dịch Chứng khoán năm 1934):

Năm tài khóa − Năm tài khóa của Dell kéo dài 52 hoặc 53 tuần, kết thúc vào ngày thứ Sáu gần với ngày 31/1 nhất. Tất cả các năm tài khóa 2004, 2003 và 2002 đều gồm 52 tuần.

Chi phí vận chuyển − Chi phí vận chuyển và xử lý hàng của Dell đều được tính vào chi phí bán hàng trong báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất đi kèm cho tất cả các giai đoạn trình bày.

Tuy nhiên, những chú thích khác có thể dài và phức tạp, như những đoạn chú thích dưới đây trong Báo cáo 10-K của Tyco International cho năm tài khóa kết thúc vào ngày 30/9/2004:

Ghi nhận doanh thu − Công ty ghi nhận doanh thu chủ yếu trên 4 loại giao dịch − bán sản phẩm, bán hệ thống an ninh, thu phí thuê bao đối với dịch vụ giám sát và bán hợp đồng.

Doanh thu bán sản phẩm được ghi nhận tại thời điểm chuyển giao tên tuổi, rủi ro và lợi ích của quyền sở hữu. Thời điểm này thường diễn ra khi các sản phẩm đến cảng đi FOB, giá bán là cố định và có thể xác định được, và việc thu nhận hàng được đảm bảo.

Những điều khoản hoàn tiền, ưu đãi bán hàng, xúc tiến thương mại, phiếu giảm giá, đổi trả hàng và chiết khấu cho khách hàng được ghi nhận là phần giảm trừ khi xác định doanh thu trong kỳ ghi nhận doanh thu. Những điều khoản này được thực hiện dựa trên những dự toán phát xuất từ các yêu cầu của chương trình hiện tại và kinh nghiệm đã có.

Chú thích đặc biệt này còn kéo dài thêm 7 đoạn nữa. Song xin đừng hiểu sai ý chúng tôi: việc Tyco giải thích cách thức họ ghi nhận doanh thu là rất quan trọng. Các quyết định về thời điểm ghi nhận doanh thu là yếu tố chủ chốt trong nghệ thuật tài chính. Bạn cũng không nên cho rằng Dell luôn có những chú thích đơn giản, còn các chú thích của Tyco thì luôn phức tạp.

Các ví dụ của chúng tôi chỉ đơn giản minh họa cho sự đa dạng của các loại chú thích mà bạn sẽ gặp trong các báo cáo kết quả kinh doanh thường niên. Đôi khi bạn còn có thể thấy một số điều rất đỗi thú vị về các doanh nghiệp, qua việc đọc các chú thích! Vậy nên, hãy cứ thưởng thức đi! Tiện đây xin nhắn bạn, nếu không thể tìm ra những giải thích mình cần trong phần ghi chú, hãy hỏi giám đốc tài chính. Ông ta ắt có câu trả lời.

QUY TẮC QUAN TRỌNG

Đó là những quy tắc để đọc báo cáo. Song bạn cũng chớ quên một quy tắc quan trọng luôn cần được đặt lên trước suy nghĩ của bạn bất cứ khi nào bạn phải đối mặt với một báo cáo kết quả kinh doanh. Quy tắc đó phát biểu như sau:

Hãy nhớ rằng nhiều số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh các ước tính và giả định. Kế toán quyết định tính những giao dịch này, và bỏ qua các giao dịch khác. Họ đã quyết định dự toán theo cách này, và bỏ qua các cách khác.

Đó là nghệ thuật tài chính. Nếu bạn ghi nhớ kỹ điểm này, chúng tôi đảm bảo, trí tuệ tài chính của bạn đã vượt nhiều nhà quản lý.

Vậy nên, chúng ta hãy mạnh dạn dấn sâu vào để có cái nhìn chi tiết hơn về một số hạng mục chủ chốt. Nếu bạn không có báo cáo kết quả kinh doanh sẵn dùng, hãy tham khảo mẫu báo cáo ở phần phụ lục.

-Karen Berman & Joe Knight, John Case-

Bình luận