Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu

03:00 07/17/2018

Như chúng tôi đã nói ở phần trước, nợ phải trả là những gì doanh nghiệp nợ, còn vốn chủ sở hữu là giá trị thuần của doanh nghiệp. Có một cách khác −    chỉ đôi chút − để đọc phần này của bảng cân đối kế toàn, đó là phần này cho ta thấy các tài sản đã được thu về như thế nào. Nếu một doanh nghiệp vay vốn dưới bất kỳ phương thức, hình thức hay loại hình nào để có được tài sản, thì khoản vốn vay sẽ được thể hiện trên một dòng nợ phải trả. Nếu doanh nghiệp bán cổ phiếu để mua tài sản, thực tế này sẽ được phản ánh trên một dòng thuộc hạng mục vốn chủ sở hữu.

CÁC LOẠI NỢ PHẢI TRẢ

Nhưng, trước tiên hãy nói về những khoản mục đầu tiên, mà ở đây là nợ phải trả, tức nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp khác. Nợ phải trả luôn được chia thành hai loại chính. Nợ ngắn hạn là những khoản phải thanh toán trong vòng chậm nhất là một năm. Nợ dài hạn là những khoản được thỏa thuận thanh toán trong khoảng thời gian dài hơn. Các khoản nợ được kê khai trên bảng cân đối kế toán theo trình tự từ ngắn hạn nhất đến dài hạn nhất, vì vậy cách bố trí này sẽ cho bạn biết khi nào khoản nào sẽ đến hạn.

Khoản phải trả của nợ dài hạn

Nếu công ty bạn vay dài hạn ngân hàng 100.000 đô-la, nhiều khả năng 10.000 đô-la trong số đó sẽ tới hạn thanh toán trong năm nay. Nếu vậy, số tiền đó sẽ được thể hiện trong phần nợ ngắn hạn của bảng cân đối kế toán. Dòng này sẽ có tên “khoản phải trả của nợ dài hạn” (current portion of longterm debt) hoặc một cái tên nào khác tương tự. 90.000 đô-la còn lại sẽ được ghi nhận trong mục nợ dài hạn.

Các khoản vay ngắn hạn

Đây là dòng vay nợ tín dụng và vay xoay vòng ngắn hạn. Những khoản mục vay nợ tín dụng ngắn hạn này thường được bảo đảm bằng các tài sản ngắn hạn như khoản phải thu và hàng tồn kho. Tổng dư nợ hiện tại được thể hiện trong khoản này.

Khoản phải trả

Các khoản phải trả thể hiện số tiền mà doanh nghiệp nợ các nhà cung cấp. Doanh nghiệp nhận hàng hóa và dịch vụ từ các nhà cung cấp mỗi ngày, và chỉ thanh toán hóa đơn sau 30 ngày. Thực chất, các nhà cung cấp đã cho doanh nghiệp vay nợ. Các khoản phải trả cho biết tính đến ngày ghi trên bảng cân đối kế toán doanh nghiệp đang nợ bao nhiêu. Dư nợ tín dụng của doanh nghiệp cũng thường được tính vào trong trong các khoản phải trả.

Các khoản mục chi phí trả trước và nợ ngắn hạn khác

Hạng mục thâu gom tất cả này bao gồm mọi khoản nợ khác của doanh nghiệp. Tiền lương là một ví dụ. Giả sử bạn được trả lương vào ngày 1 tháng Mười. Vậy có hợp lý không nếu khoản lương của bạn được tính như một chi phí trên báo cáo kết quả kinh doanh của tháng Mười? Có lẽ là không – bởi bảng lương tháng Mười là để chi trả cho các hoạt động trong tháng Chín. Vậy nên, các kế toán viên hoặc sẽ tính toán, hoặc sẽ ước tính xem ngày 1 tháng Mười, công ty nợ bạn bao nhiêu cho những công việc được hoàn tất trong tháng Chín, và kế đó họ sẽ định khoản các chi phí ấy cho tháng Chín.

Đó là một khoản nợ trả trước. Nó giống như một hóa đơn nội bộ của tháng Chín được thanh toán vào tháng Mười. Các khoản nợ trả trước là một phần của nguyên tắc phù hợp − chúng ta so khớp cho chi phí mỗi tháng phù hợp với doanh thu mà chúng tạo ra.

Nợ dài hạn

Hầu hết nợ dài hạn là các khoản vay nợ. Nhưng có thể cũng có những khoản nợ khác được liệt vào nhóm này. Ví dụ như tiền thưởng hoặc tiền bồi dưỡng trả chậm, thuế trả chậm và các khoản nợ tiền lương hưu. Nếu những khoản này lớn, ta cần theo dõi sát sao.

VỐN CHỦ SỞ HỮU

Cuối cùng! Bạn còn nhớ phương trình kia không? Vốn chủ sở hữu là những gì còn lại sau khi trừ các khoản nợ vào tài sản. Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn do nhà đầu tư cấp, và lợi nhuận được giữ lại theo thời gian. Vốn chủ sở hữu còn có nhiều tên gọi khác, chẳng hạn vốn cổ phần và vốn cổ đông. Khoản mục vốn chủ sở hữu được kê khai trên bảng cân đối kế toán của một số doanh nghiệp có thể khá tỉ mỉ và khó hiểu. Chúng thường bao gồm các hạng mục sau.

Cổ phiếu ưu đãi

Cổ phiếu ưu đãi (preferred share) là một loại hình chứng khoán đặc biệt. Những người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi sẽ được ưu tiên nhận cổ tức trước những người nắm giữ cổ phiếu phổ thông. Tuy nhiên, mức cổ tức cho cổ phiếu ưu đãi thường cố định, nên giá của chúng không biến động nhiều như cổ phiếu phổ thông. Các nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu ưu đãi có thể sẽ không nhận được toàn bộ lợi tức từ sự gia tăng giá trị của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp phát hành cổ phiếu ưu đãi, họ bán chúng cho nhà đầu tư với mức giá khởi đầu nhất định. Giá trị trên bảng cân đối kế toán phản ánh mức giá đó.

Vốn

Trong kinh doanh, từ này có nhiều nghĩa. Vốn vật chất là nhà xưởng, thiết bị, phương tiện vận tải và những tài sản tương tự. Vốn tài chính nếu xét từ góc nhìn của một nhà đầu tư thì là cổ phiếu và trái phiếu mà nhà đầu tư đó nắm giữ; còn từ góc nhìn của doanh nghiệp, thì là khoản đầu tư vốn cổ phần cộng với một khoản vay bất kỳ khác của doanh nghiệp. “Nguồn vốn” trong báo cáo thường niên cho biết doanh nghiệp lấy tiền từ đâu. “Phương thức sử dụng vốn” cho biết doanh nghiệp đã dùng số tiền đó như thế nào.

Hầu hết các cổ phiếu ưu đãi đều không kèm theo quyền biểu quyết. Nói cách khác, chúng giống trái phiếu hơn là cổ phiếu phổ thông. Vậy sự khác biệt nằm ở đâu? Với trái phiếu, chủ sở hữu sẽ nhận một phiếu thưởng có giá trị cố định hoặc một khoản lợi tức, còn đối với cổ phiếu ưu đãi, chủ sở hữu sẽ nhận cổ tức cố định. Doanh nghiệp sử dụng chứng khoán ưu đãi để huy động tiền vì nó không mang ý nghĩa pháp lý như vay nợ. Nếu một doanh nghiệp không thể thanh toán lợi tức trên trái phiếu, người nắm giữ trái phiếu có thể yêu cầu doanh nghiệp tuyên bố phá sản. Trong khi đó, người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi thì không.

Cổ phiếu phổ thông hay chứng khoán phổ thông

Không giống như đa số các cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu phổ thông (common share hoặc common stock) thường kèm theo quyền biểu quyết. Những người nắm giữ loại cổ phiếu này có thể biểu quyết lựa chọn thành viên trong hội đồng quản trị (thường thì mỗi cổ phiếu là một phiếu bầu) và về những vấn đề khác được đưa ra thảo luận trước các cổ đông. Cổ phiếu phổ thông có thể được trả cổ tức, có thể không. Giá trị của cổ phiếu thường được trình bày trên bảng cân đối kế toán ở mục “mệnh giá”, tức là số tiền danh nghĩa được gán cho chứng khoán của bên phát hành. Mệnh giá thường là một khoản tiền rất nhỏ và không liên quan đến giá thị trường của cổ phiếu. Trên bảng cân đối kế toán mẫu của chúng tôi, cổ phiếu phổ thông có mệnh giá là 1 đô-la.

Vốn góp thêm

Đây là số tiền lớn hơn mệnh giá mà ban đầu các nhà đầu tư chi trả cho cổ phiếu. Ví dụ, nếu một cổ phiếu được bán với giá ban đầu là 5 đô-la/cổ phiếu, và nếu mệnh giá là 1 đô-la/cổ phiếu, thì phần vốn góp thêm là 4 đô-la/cổ phiếu. Số vốn góp thêm được cộng tổng theo thời gian − vì vậy, trong trường hợp doanh nghiệp phát hành cổ phiếu bổ sung, thì phần vốn góp thêm sẽ được thêm vào số tiền hiện có.

Cổ tức

Cổ tức (divident) là khoản tiền được chia cho cổ đông từ vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Trong các công ty đại chúng (công ty niêm yết trên sàn chứng khoán), cổ tức thường được chia vào cuối quý hoặc cuối năm.

Thu nhập giữ lại

Thu nhập giữ lại (retained earning) hay thu nhập tích lũy (accumulated earning) là phần lợi nhuận được tái đầu tư cho hoạt động kinh doanh, thay vì dùng để trả cổ tức. Nó là tổng thu nhập sau thuế được tái đầu tư hay được giữ lại trong chu kỳ kinh doanh. Đôi khi, một doanh nghiệp có nhiều lợi nhuận giữ lại dưới dạng tiền mặt – như Microsoft chẳng hạn − sẽ chịu áp lực phải thanh toán cho các cổ đông, dưới dạng cổ tức. Nói cho cùng thì có cổ đông nào lại muốn thấy tiền của mình nằm yên trong két sắt công ty, hơn là được tái đầu tư vào các tài sản sản xuất? Tất nhiên, bạn cũng có thể thấy một khoản thâm hụt tích lũy − một con số âm, thể hiện tình trạng thua lỗ của công ty trong thời gian trước đó.

Như vậy, vốn chủ sở hữu là những gì mà các cổ đông sẽ nhận khi doanh nghiệp được bán? Tất nhiên là không! Hãy nhớ lại tất cả những quy tắc, ước tính và giả định ảnh hưởng đến bảng cân đối kế toán. Các tài sản được ghi nhận tại giá mua trừ đi con số khấu hao lũy kế. Lợi thế thương mại được dồn tích mỗi khi doanh nghiệp mua lại một doanh nghiệp khác, và nó không bao giờ bị khấu hao. Và tất nhiên, doanh nghiệp còn có những tài sản vô hình  của riêng mình, chẳng hạn thương hiệu riêng và danh sách khách hàng riêng, những thứ không hề xuất hiện trên bảng cân đối kế toán. Bài học là: giá trị thị trường của một doanh nghiệp hầu như không bao giờ ăn khớp với mức vốn, hay giá trị sổ sách trên bảng cân đối kế toán. Giá trị thị trường của một doanh nghiệp trên thực tế là số tiền mà người mua muốn bỏ ra. Trong trường hợp của một doanh nghiệp nhà nước, giá trị đó sẽ được ước tính bằng việc tính toán lượng vốn hóa thị trường của doanh nghiệp, hoặc bằng việc lấy giá cổ phiếu phát hành nhân với giá cổ phiếu tại một ngày cụ thể. 

-Karen Berman & Joe Knight, John Case-

Bình luận