NGHỆ THUẬT TÀI CHÍNH (VÀ TẠI SAO NGHỆ THUẬT TÀI CHÍNH LẠI QUAN TRỌNG)

13:59 07/13/2018

1.   Không phải lúc nào cũng có thể tin tưởng các con số

Nếu theo dõi báo chí thường xuyên, hẳn suốt những năm qua bạn đã biết kha khá về những phương thức tuyệt vời mà các doanh nghiệp dùng để “xào nấu” sổ sách kế toán. Họ ghi nhận doanh thu ảo. Họ ẩn đi chi phí. Vài thủ thuật trong số đó đơn giản đến khôi hài như cách đây vài năm, có công ty phần mềm nọ đã đẩy doanh thu lên bằng cách chuyển cho khách hàng những thùng các-tông rỗng ngay trước khi kết quý. (Khách hàng đã gửi trả lại những thùng rỗng đó, nhưng tất nhiên lúc đó đã sang quý khác). Những thủ thuật khác thì lại phức tạp đến độ gần như không thể hiểu nổi. (Phải mất hàng năm trời, các kế toán và công tố viên mới có thể lần ra hết toàn bộ các giao dịch giả mạo của Enron). Chừng nào những kẻ dối trá và hàng trộm cướp vẫn còn tồn tại, thì chắc chắn vẫn còn những kẻ tìm cách tham ô, lừa lọc.

Nhưng có thể bạn cũng nhận ra một điều khác về thế giới tài chính bí ẩn, chẳng hạn, nhiều doanh nghiệp có những cách đánh bóng sổ sách hoàn toàn hợp pháp. Tuy vậy, những công cụ hợp pháp này không mạnh bằng những mánh khóe gian lận thẳng tay: chúng không thể làm cho một công ty phá sản trông như một công ty ăn nên làm ra, chí ít là không thể làm được điều đó trong một thời gian dài. Nhưng những gì chúng có thể làm được thật đáng kinh ngạc. Ví dụ, một thủ thuật nhỏ có tên gọi phí tính một lần (one-time charge) cho phép công ty gom toàn bộ tin xấu và nhét tất cả vào kết quả tài chính của một quý, nhờ thế các quý tiếp theo trông khả quan hơn. Cách khác là xếp các khoản mục chi tiêu từ hạng mục này sang hạng mục khác, cách này có thể tô điểm cho bức tranh lợi nhuận hàng quý của doanh nghiệp và đẩy giá cổ phiếu lên cao. Trong khi chúng tôi đang thực hiện cuốn sách này, tờ Wall Street Journal đã cho đăng một bài trên trang nhất, nói về việc các doanh nghiệp đã vỗ béo kết quả kinh doanh sau thuế ra sao qua biện pháp cắt giảm trợ cấp hưu trí – dù có thể họ không hề giảm một xu nào trong các khoản trợ cấp đó.

Tất cả những ai không phải là chuyên gia tài chính rất có thể sẽ đón nhận những thủ đoạn này với sự hoang mang nhất định. Mọi hoạt động khác trong công việc kinh doanh – như marketing, nghiên cứu và phát triển, quản lý nhân sự, xây dựng chiến lược, v.v… – đều mang tính chủ quan thấy rõ, chúng là những vấn đề phụ thuộc vào kinh nghiệm, các phán đoán và dữ liệu. Vậy còn tài chính? Và cả kế toán nữa? Chắc chắn các con số mà những bộ phận này tạo ra đều khách quan, trắng đen rõ ràng, miễn bàn cãi. Chắc chắn, doanh nghiệp đã bán những gì đã bán, đã tiêu những gì đã tiêu, đã thu những gì đã thu. Ngay cả khi gian lận diễn ra, trừ phi doanh nghiệp thực sự gửi đi những thùng các-tông rỗng, còn không làm sao các nhà điều hành có thể dễ dàng biến hóa cho mọi thứ trông quá khác với thực tế được? Và nếu không gian lận, làm thế nào họ có thể ngụy tạo kết quả kinh doanh dễ dàng đến vậy?

NGHỆ THUẬT TÀI CHÍNH

Thực tế là, kế toán và tài chính, cũng như mọi kiến thức kinh doanh kia cũng mang tính nghệ thuật không kém gì tính khoa học. Bạn có thể gọi đó là bí quyết tuyệt mật của giám đốc tài chính hoặc kế toán trưởng, ngoại trừ việc nó chẳng phải là bí quyết, mà là một chân lý được thừa nhận rộng rãi, ai làm trong ngành tài chính cũng đều biết. Vấn đề là những kẻ còn lại trong chúng ta lại thường quên mất điều đó. Chúng ta tưởng rằng, khi một con số xuất hiện trên báo cáo tài chính hoặc trong các báo cáo mà bộ phận tài chính gửi lên ban quản lý, con số đó chắc chắn phải phản ánh đúng thực tế.

Hiển nhiên, thực tế là điều này không phải lúc nào cũng đúng, bởi ngay cả những người đang kiểm soát các con số cũng không thể biết hết mọi điều. Họ không thể biết chính xác mỗi ngày các thành viên trong doanh nghiệp làm gì, thế nên họ không biết chính xác phải phân bổ chi phí ra sao. Họ không thể biết chính xác một thiết bị sẽ hoạt động trong bao lâu, thế nên họ không biết phải ghi nhận mức khấu hao là bao nhiêu cho một năm cụ thể từ chi phí ban đầu đã bỏ ra để mua thiết bị đó. Nghệ thuật − tài chính kế toán là nghệ thuật sử dụng những dữ liệu hạn chế để đến gần nhất có thể với một mô tả chính xác về tình trạng hoạt động của doanh nghiệp. Tài chính − kế toán không phải là thực tế, mà là phản ánh thực tế, và tính chính xác của sự phản ánh đó phụ thuộc vào năng lực của kế toán viên và chuyên gia tài chính trong việc đưa ra những giả định và ước tính hợp lý.

Đây là một công việc đau đầu. Có lúc họ phải định lượng những thứ không dễ định lượng. Có lúc họ lại phải đưa ra những phán đoán khó phân định về cách phân loại một khoản mục nhất định. Những sự vụ phức tạp kể trên không phải là hệ quả tất yếu của việc họ “xào nấu” sổ sách, hay bởi họ thiếu khả năng. Phức tạp nảy sinh vì những người làm kế toán và tài chính phải đưa ra những phỏng đoán theo kinh nghiệm về các số liệu của hoạt động kinh doanh.

Thông thường, kết quả của những giả định và ước tính này là một định kiến số liệu. Xin các bạn đừng hiểu lầm rằng chúng tôi sử dụng từ “định kiến [bias – thiên vị]” để công kích sự liêm chính của bất kỳ ai. (Trong số những người bạn thân thiết của chúng tôi, có nhiều người cũng là kế toán và một trong hai chúng tôi, Joe, thực chất còn có chức danh CFO trên danh thiếp). Ở giác độ liên quan đến kết quả tài chính, “định kiến” chỉ có nghĩa là các con số có thể nghiêng theo hướng này hoặc hướng kia. Nó chỉ có nghĩa là các chuyên gia kế toán và tài chính đã sử dụng những tập giả định và ước tính nhất định, thay vì những tập giả định và ước tính khác, khi tổng hợp báo cáo. Giúp các bạn hiểu rõ “định kiến” này, hiệu chỉnh lại nó khi cần thiết, và thậm chí là sử dụng nó phục vụ cho lợi ích của bạn (và doanh nghiệp) là mục tiêu của cuốn sách này. Để hiểu được nó, bạn phải biết nên đặt câu hỏi gì về các giả định và ước tính. Khi trang bị cho bản thân những thông tin như vậy, bạn có thể đưa ra những quyết định cẩn trọng và phù hợp.

Khung định nghĩa

Chúng tôi muốn kiến thức tài chính trở nên dễ dàng hết sức có thể. Hầu hết các cuốn sách về tài chính thường buộc chúng ta phải trở đi trở lại giữa trang đang đọc và phần thuật ngữ để tìm hiểu định nghĩa của từ mà chúng ta chưa biết. Nhưng đến khi chúng ta tìm ra định nghĩa và trở lại với trang đang đọc, chúng ta cũng đứt luôn mạch tư duy. Vì thế, ở đây chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn định nghĩa ngay khi bạn cần, ngay khi chúng xuất hiện lần đầu.

PHÁN ĐOÁN CHỦ QUAN

Ví dụ, chúng ta hãy cùng xem xét một biến số thường xuyên được ước tính – biến số mà bạn không hề nghĩ là cần ước tính. Doanh thu (revenue hay sale) chỉ giá trị mà doanh nghiệp bán được cho khách hàng trong một giai đoạn nhất định. Bạn hẳn sẽ cho rằng, xác định nó là việc dễ dàng. Nhưng câu hỏi đặt ra là: Nên ghi nhận (hay “công nhận” – nói theo kiểu của kế toán viên) doanh thu vào lúc nào? Sau đây là một số khả năng:

Khi hợp đồng được ký kết;

Khi sản phẩm hoặc dịch vụ được bàn giao; Khi hóa đơn được gửi đi;

Khi hóa đơn được thanh toán.

Nếu bạn cho rằng đó là “khi sản phẩm hoặc dịch vụ được bàn giao,” thì bạn đã lầm; như chúng ta sẽ thấy trong chương 6, có một quy tắc nền tảng sẽ quyết định khi nào thì một khoản doanh thu mới được thể hiện trong báo cáo kết quả kinh doanh. Tuy nhiên, quy tắc đó không hề đơn giản. Việc thực  hiện nó đòi hỏi phải đưa ra nhiều giả định, và trên thực tế toàn bộ câu hỏi “khi nào thì doanh thu là doanh thu?” là chủ đề gây sốt ở nhiều vụ gian lận suốt từ cuối thập niên 1990 trở lại đây.

nghệ thuật tài chính

Báo cáo kết quả kinh doanh

Báo cáo kết quả kinh doanh (income statement) thể hiện doanh thu, chi phí, và lợi nhuận của doanh nghiệp trong một giai đoạn, chẳng hạn một tháng, một quý, hoặc một năm. Nó còn được gọi là báo cáo lãi lỗ (profit & loss statement), báo cáo thu nhập (statement of earnings), hoặc báo cáo hoạt động kinh doanh (statement of operations). Đôi khi từ “hợp nhất” được đưa vào trước các cụm từ này, nhưng kỳ cùng thì nó vẫn chỉ là báo cáo kết quả kinh doanh. Dòng cuối cùng của báo cáo kết quả kinh doanh là lợi nhuận thuần (lãi thuần), hay còn được gọi là thu nhập thuần (net income hay net earnings).

Chẳng hạn, hãy thử tưởng tượng một công ty bán cho khách hàng một chiếc máy photocopy, đi kèm là hợp đồng bảo trì, tất cả đều được gói chung vào cùng một gói tài chính. Giả sử chiếc máy được giao vào tháng Mười, nhưng hợp đồng bảo trì có hiệu lực trong suốt 12 tháng tiếp theo. Vậy: nên ghi nhận bao nhiêu phần giá mua ban đầu vào sổ sách kế toán tháng Mười? Nói cho cùng thì công ty vẫn chưa bàn giao hết toàn bộ dịch vụ mà họ có trách nhiệm thực hiện trong suốt cả năm. Tất nhiên, các kế toán viên có thể dự toán giá trị của những dịch vụ này, và điều chỉnh doanh thu cho phù hợp. Nhưng việc đó đòi hỏi phán đoán chủ quan đáng kể.

Ví dụ sau đây cũng không thuần túy là giả thuyết. Hãy theo dõi Xerox, công ty này đã chơi trò công nhận doanh thu với quy mô khủng khiếp đến độ sau đó bị phát hiện là đã ghi nhận không đúng con số doanh thu khổng lồ 6 tỷ đô-la. Vấn đề ở đây là gì? Xerox bán thiết bị theo các hợp đồng cho thuê bốn năm, bao gồm cả dịch vụ và bảo trì. Vậy, trong giá bán có bao nhiêu phần bù cho chi phí thiết bị, và bao nhiêu phần cho các dịch vụ đi kèm? Lo sợ rằng lợi nhuận giảm sút sẽ khiến giá cổ phiếu của công ty lao dốc, các nhà điều hành Xerox quyết định ghi nhận trước tỷ lệ phần trăm tiếp tục tăng của doanh thu ước tính – kèm theo các lợi nhuận liên quan – vào sổ sách. Lập  tức doanh thu của gần như mọi hợp đồng đều được ghi nhận ngay tại thời điểm giao dịch.

Chi phí hoạt động

Chi phí hoạt động (operating expense) là các phí tổn cần thiết để duy trì hoạt động hàng ngày, bao gồm tiền lương, trợ cấp, chi phí bảo hiểm, cùng nhiều khoản khác. Chi phí hoạt động được kê khai trên báo cáo kết quả kinh doanh và được trừ vào doanh thu để xác định lợi nhuận.

Xerox rõ ràng đã lạc lối, và công ty cố gắng lợi dụng nghiệp vụ kế toán để che đậy thất bại kinh doanh của mình. Nhưng bạn có thể thấy vấn đề quan trọng ở đây là: không cần phải “xào nấu” sổ sách, người ta luôn có thể tìm ra nhiều kẽ hở để làm cho các con số trông có vẻ thế này hoặc thế khác.

Ví dụ thứ hai thể hiện tính nghệ thuật của tài chính − và cũng là một ví dụ có vai trò quan trọng trong những vụ bê bối tài chính gần đây − là xác định liệu một khoản chi phí nhất định là chi phí đầu tư cơ bản (capital expenditure) hay là chi phí hoạt động (operation expense). Chúng tôi sẽ tìm hiểu chi tiết nội dung này trong phần sau; còn bây giờ, tất cả những gì bạn cần biết là chi phí hoạt động sẽ khiến kết quả kinh doanh sụt giảm ngay lập tức, còn chi phí đầu tư cơ bản lại trải rộng tác động lên nhiều kỳ kế toán. Bạn có thể nhìn thấy sự cám dỗ ngay ở đây. Gượm đã. Ý anh chị là nếu chúng ta thực hiện tất cả các giao dịch mua văn phòng phẩm và gọi chúng là “chi phí đầu tư cơ bản”, chúng ta có thể gia tăng lợi nhuận tương ứng ư? Chính kiểu tư duy này đã khiến WorldCom rơi vào rắc rối. Để ngăn chặn sự cám dỗ đó, cả ngành kế toán lẫn cá nhân các doanh nghiệp phải có những quy tắc định rõ: nên xếp cái gì vào đâu. Nhưng các quy tắc lại dựa đáng kể vào phán đoán và quyết định của cá nhân. Một lần nữa, những phán đoán này lại tác động mạnh đến lợi nhuận của doanh nghiệp, và kéo theo là tác động lên cả giá cổ phiếu.

Chi phí đầu tư cơ bản

Chi phí đầu tư cơ bản (capital expenditure) là chi phí mua một khoản mục được coi là khoản đầu tư dài hạn, chẳng hạn như hệ thống máy tính, thiết bị. Hầu hết các doanh nghiệp đều tuân theo quy tắc: bất kỳ giao dịch mua hàng nào nếu vượt quá một số tiền nhất định sẽ được xem là chi phí đầu tư cơ bản, giao dịch có giá trị thấp hơn là chi phí hoạt động. Chi phí hoạt động được thể hiện trong báo cáo kết quả kinh doanh, và do đó làm giảm lợi nhuận. Chi phí đầu tư cơ bản lại được kê khai trong bảng cân đối kế toán; chỉ có phần khấu hao của thiết bị đầu tư mới xuất hiện trong báo cáo kết quả kinh doanh.

-Karen Berman & Joe Knight, John Case-

Bình luận