Tài liệu

Huấn luyện văn hóa giao tiếp nơi công sở

17/09/2018
0 trang
0
0
background image

Số:…BCXPĐA/2016

CÔNG TY CỔ PHẦN TÁI CẤU TRÚC DOANH NGHIỆP VIỆT

Trụ sở: Tầng 1 tòa Sunrise Building 2, KĐT Sài Đồng, Long Biên, Hà Nội   

Điện thoại: 0438. 533 533 - Fax:  0436.525 808  - web: verco.vn 

                                                                              Hà Nội, ngày ……. tháng……năm 2016

Phụ lục

Tài liệu huấn luyện 

VĂN HOÁ GIAO TIẾP ỨNG XỬ NƠI CÔNG SỞ

I/ Tổng quan về văn hoá ứng xử giao tiếp ở Việt Nam: 

Văn hoá giao tiếp của người Việt Nam bao gồm những đặc điểm sau: 
 Vừa cởi mở, vừa rụt rè; 

 Xử sự nặng nề về tình cảm hơn là lý trí; 
 Trọng danh dự thái quá tới mức trở thành một bệnh sĩ diện hão;  Giữ ý trong giao 
tiếp; 
 Thiếu tính quyết đoán. Bắt nguồn từ “Văn minh lúa nước” bao đời nay, những phẩm 
chất nổi trội về văn hoá trong con người Việt Nam là: 
 Khả năng đối phó rất linh hoạt với mọi tình thế và lối ứng xử mềm dẻo; 

 Tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng để tạo nên sức mạnh vượt qua khó khăn, thử 
thách; 

 Giản dị, chất phác, ưa đơn giản, ghét cầu kỳ xa hoa; 
 Tấm lòng rộng mở và giàu cảm xúc lãng mạn; 

 Cần cù, chịu thương, chịu khó, giỏi chịu đựng gian khổ; 
 Trọng tuổi tác, trọng người già (Lão quyền); 

 Tập tính hạch toán kém, không quen lường tính xa; 
 Tác phong tuỳ tiện, kỷ luật không chặt chẽ; 

 Tâm lý bình quân chủ nghĩa; 

 Nhân ái, vị tha và rộng lượng; 

 Nặng tình nhẹ lý, chín bỏ làm mười (cơ sở chủ nghĩa dân tộc - một người làm quan cả
họ được nhờ); 

 Tâm lý sống lâu lên lão làng, đề cao chủ nghĩa kinh nghiệm;  Tư tưởng bảo thủ, 
đóng cửa, tự thu xếp mọi việc, không cầu thị. 

Version 1.0/2006

Page 1 of 32

background image

Số:…BCXPĐA/2016

CÔNG TY CỔ PHẦN TÁI CẤU TRÚC DOANH NGHIỆP VIỆT

Trụ sở: Tầng 1 tòa Sunrise Building 2, KĐT Sài Đồng, Long Biên, Hà Nội   

Điện thoại: 0438. 533 533 - Fax:  0436.525 808  - web: verco.vn 

                                                                              Hà Nội, ngày ……. tháng……năm 2016

II/ Phân loại văn hoá giao tiếp: 
1. Khi phân tích các hoạt động giao tiếp trong xã hội, ta có thể chia thành ba loại: 
Một là, giao tiếp truyền thống: Giao tiếp được thực hiện trên cơ sở các mối quan hệ 
giữa người và người đã hình thành lâu dài trong quá trình phát triển xã hội: Đó là 
quan hệ huyết thống trong họ hàng, gia đình giữa ông bà, cha mẹ, con cái v.v... quan 
hệ làng xóm láng giềng nơi mọi người đều quen biết nhau, vai trò cá nhân trong tiếp 
xúc giao lưu được quy định rõ ràng, ngôn ngữ giao tiếp đã hình thành lâu dài trở 
thành những quy định bất thành văn, thấm đẫm vào từng xã hội, cuối cùng trở thành 
văn hoá ứng xử riêng trong xã hội đó. Tất cả những điều ấy quy định và điều chỉnh 
quá trình trao đổi thông tin trong quan hệ tiếp xúc, giao lưu. Loại giao tiếp này bị chi 
phối bởi văn hoá tập quán, hệ thống các quan niệm và ý thức xã hội. 

Hai là, giao tiếp chức năng: Giao tiếp chức năng phát triển trong hoạt động chức 

nghiệp. Loại giao tiếp này xuất phát từ sự chuyên môn hoá trong xã hội, ngôn ngữ và 
hình thức giao tiếp chịu ảnh hưởng của những quy định thành văn hay không thành văn,
để dần trở thành quy ước, chuẩn mực và thông lệ chung trong xã hội. Loại giao tiếp này
không xuất phát từ sự đòi hỏi bộc lộ cá tính hay những tình cảm riêng tư mà xuất phát 
từ sự đòi hỏi của nghi lễ ứng xử xã hội và hiệu quả trong công việc. Đó là ngôn ngữ cho
phép mọi người không quen biết nhau, rất khác nhau, nhưng khi thực hiện những vai trò
xã hội nhất định đều sử dụng kiểu giao tiếp như vậy. Chẳng hạn đó là giao tiếp trong 
công việc giữa thủ trưởng và nhân viên, giữa người bán và người mua, giữa bác sĩ và 
bệnh nhân, giữa bị cáo và chánh án v.v… 

Ba là, giao tiếp tự do: Loại giao tiếp này mang nhiều đường nét cá nhân của người 

giao tiếp, được cảm thụ chủ quan như một giá trị tự tại, như mục đích tự thân. Những 
quy tắc và mục đích giao tiếp không được định trước như khuôn mẫu, mà xuất hiện 
ngay trong quá trình tiếp xúc, tuỳ theo sự phát triển của các mối quan hệ. Giao tiếp tự 
do được thúc đẩy bởi tính chủ động, phẩm chất và mục đích của mỗi cá nhân, nó cần 
thiết trong quá trình xã hội hoá làm phát triển và thoả mãn các nhu cầu về lợi ích tinh 
thần và vật chất của các bên giao tiếp một cách nhanh chóng và trực tiếp. Loại giao tiếp 
này trong thực tế cuộc sống là vô cùng phong phú, trên cơ sở trao đổi những thông tin 
có được, làm thức tỉnh những hứng thú tình cảm sâu sắc và để giải toả xung đột của mỗi
cá nhân. 

2. Mức độ của hành vi văn minh trong giao tiếp của mỗi người được đánh giá thông qua

Version 1.0/2006

Page 2 of 32

background image

Số:…BCXPĐA/2016

CÔNG TY CỔ PHẦN TÁI CẤU TRÚC DOANH NGHIỆP VIỆT

Trụ sở: Tầng 1 tòa Sunrise Building 2, KĐT Sài Đồng, Long Biên, Hà Nội   

Điện thoại: 0438. 533 533 - Fax:  0436.525 808  - web: verco.vn 

                                                                              Hà Nội, ngày ……. tháng……năm 2016

cấu trúc: 

Tính chuẩn mực (phần cứng): biểu hiện ở những quy ước (dưới dạng truyền thống 

đạo đức, lễ giáo, phong tục tập quán) có ảnh hưởng vô hình và lâu dài trong tư duy, 
hành vi và thói quen của mỗi người; ý thức hệ xã hội (có ảnh hưởng mang tính bắt 
buộc); cùng với những quy định mang tính đặc thù của tổ chức - nơi mỗi người làm 
việc. Trong giao tiếp chính thức thì các quy ước và quy định đã được thể chế hoá. Mặt 
khác nó còn được biểu hiện ở kiểu khí chất trong mỗi cá nhân. 

Tính linh hoạt dựa trên phẩm chất cá nhân (phần mềm): trong giao tiếp biểu hiện ở 

trình độ văn hoá, học vấn, kinh nghiệm, trạng thái tâm lý, độ tuổi ở mỗi cá nhân, giới 
tính và đặc điểm nghề nghiệp. Mỗi người có thể tiến hành giao tiếp và đạt được kết quả 
như thế nào tuỳ thuộc vào sự linh hoạt vận dụng những phẩm chất cá nhân đó trong mỗi
tình huống và hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. 

Trên thực tế trở ngại lớn nhất trong giao tiếp thường ở phần cứng (đặc biệt giao tiếp 

với đối tác là người nước ngoài). Có nghĩa là người ta có thể bị ảnh hưởng quá sâu sắc, 
hoặc bám giữ quá chặt chẽ vào những quy định, quy tắc thuộc về phần cứng, do đó hạn 
chế đến khả năng tiếp cận và thích ứng với người đối thoại. Điều này ở mức độ lớn 
được gọi là sự xung đột về nền văn minh mà mỗi cá nhân đương hưởng thụ và chịu sự 
chi phối của nó. Tuy nhiên khi phẩm chất cá nhân đạt đến một trình độ cao, người ta 
càng có khả năng tự chủ, thoát ra khỏi mọi khuôn sáo, giáo điều một cách uyển chuyển 
linh hoạt. Sự linh hoạt (phần mềm chứ không phải là phần cứng) đang chứng tỏ sự 
thành công của nó trong một thế giới mà các mối quan hệ đang tiến đến gần một chuẩn 
mực chung. Nhưng phẩm chất cá nhân sẽ là gì khi thoát ly hẳn với phần cứng? Thực 
chất là bản sắc không thể tự mình tạo nên, và trong chân không, nó phải có gốc của nó -
đó là phần cứng. Quả cây có ngọt hay không hãy xem đất của nó. Đến lượt nó, điều này
lại giúp chúng ta tránh được xung đột về cá tính. 

3. Cốt lõi của lịch sự: điều mà nhờ nó chúng ta dành được cảm nhận tích cực từ phía đối
tác là: 

Văn hoá chuẩn mực: có nghĩa là văn hoá ứng xử của mình phù hợp với bối cảnh, với 
đối tác, với địa vị và nghề nghiệp được điều tiết đúng mức độ mà công việc đòi hỏi; 

Tự nhiên: nghĩa là hành vi và cách ứng xử ấy không phải là kết quả của sự cố tạo dựng, 
gò ép hay bắt chước mà như là phẩm chất của chính mình, kết quả của một quá trình 

Version 1.0/2006

Page 3 of 32

Mô tả tài liệu

Kế hoạch và các bước xây dựng văn hóa doanh nghiệp từ A đến Z

Bình luận

Tài liệu cùng bộ

Bộ tài liệu liên quan

10 tài liệu
0
6103
10 tài liệu
0
7688
4 tài liệu
0
3166
4 tài liệu
0
3093
6 tài liệu
0
2171
9 tài liệu
0
6209
1 tài liệu
0
1175

Bộ tài liệu liên quan

12/09/2018
10 tài liệu
0
6103
12/09/2018
10 tài liệu
0
7688
12/09/2018
4 tài liệu
0
3166
12/09/2018
4 tài liệu
0
3093
12/09/2018
6 tài liệu
0
2171
12/09/2018
9 tài liệu
0
6209
12/09/2018
1 tài liệu
0
1175