Tài liệu

Bo luat lao dong sdoi bsung 2006

18/09/2018
0 trang
0
0
background image

LUẬT

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU

CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG

CỦA QUỐC HỘI KHOÁ XI, KỲ HỌP THỨ 10 

SỐ 74/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 11 NĂM 2006

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được

sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội
khoá X, kỳ họp thứ 10;

Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Chương XIV của Bộ luật lao động ngày 23

tháng 6 năm 1994 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002.

Điều 1
Sửa đổi, bổ sung Chươ
ng XIV của Bộ luật lao động về Giải quyết tranh chấp lao động

như sau:

Chương XIV

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG

Mục I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 157
1. Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích phát sinh trong quan

hệ lao động giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao động.

Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với

người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử
dụng lao động.

2. Tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp về việc thực hiện các quy định

của pháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký với cơ
quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các quy chế, thoả thuận hợp pháp khác ở doanh nghiệp
mà tập thể lao động cho rằng người sử dụng lao động vi phạm.

3. Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là tranh chấp về việc tập thể lao động yêu

cầu xác lập các điều kiện lao động mới so với quy định của pháp luật lao động, thoả ước lao
động tập thểnội quy lao động đã được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc
các quy chế, thoả thuận hợp pháp khác ở doanh nghiệp trong quá trình thương lượng giữa tập
thể lao động với người sử dụng lao động.

4. Tập thể lao động là những người lao động cùng làm việc trong một doanh nghiệp

hoặc một bộ phận của doanh nghiệp.

5. Điều kiện lao động mới  là việc sửa đổi, bổ sung thoả ước lao động tập thể, tiền

lương, tiền thưởng, thu nhập, định mức lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và
phúc lợi khác trong doanh nghiệp.

Điều 158

background image

Việc giải quyết các tranh chấp lao động được tiến hành theo những nguyên tắc sau

đây:

1. Thương lượng trực tiếp, tự dàn xếp và tự quyết định của hai bên tranh chấp tại nơi

phát sinh tranh chấp;  

2. Thông qua hoà giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh

chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội và tuân theo pháp luật;

3. Giải quyết công khai, khách quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp luật;
4. Có sự tham gia của đại diện người lao động và đại diện người sử dụng lao động

trong quá trình giải quyết tranh chấp.

Điều 159

1. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho hai bên giải quyết tranh

chấp lao động thông qua thương lượng, hoà giải nhằm bảo đảm lợi ích của hai bên tranh chấp,
ổn định sản xuất, kinh doanh, trật tự và an toàn xã hội.

Việc giải quyết tranh chấp lao động tại cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động

được tiến hành khi một bên từ chối thương lượng hoặc hai bên đã thương lượng mà vẫn
không giải quyết được và một hoặc hai bên có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động.

2. Tổ chức công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ

và giúp đỡ Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động được quy định tại
Điều 172a của Bộ luật này trong việc giải quyết tranh chấp lao động theo đúng quy định của
pháp luật.

3. Khi xảy ra tranh chấp lao động tập thể về quyền dẫn đến ngừng việc tạm thời của

tập thể lao động thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải chủ động, kịp thời tiến hành giải
quyết.

Điều 160
1. Trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động, hai bên tranh chấp có các quyền sau

đây:

a) Trực tiếp hoặc thông qua người đại diện của mình tham gia quá trình giải quyết

tranh chấp;

b) Rút đơn hoặc thay đổi nội dung tranh chấp;
c) Yêu cầu thay người trực tiếp tiến hành giải quyết tranh chấp, nếu có lý do chính

đáng cho rằng người đó không thể bảo đảm tính khách quan, công bằng trong việc giải quyết
tranh chấp.

2. Trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động, hai bên tranh chấp có các nghĩa vụ

sau đây:

a) Cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức giải quyết

tranh chấp lao động;

b) Nghiêm chỉnh chấp hành các thoả thuận đã đạt được, biên bản hoà giải thành, quyết

định đã có hiệu lực của cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động, bản án hoặc quyết
định đã có hiệu lực của Toà án nhân dân.

Điều 161

Cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn

của mình có quyền yêu cầu hai bên tranh chấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp
tài liệu, chứng cứ; trưng cầu giám định, mời người làm chứng và người có liên quan trong quá
trình giải quyết tranh chấp lao động.

2

background image

Điều 162

1. Hội đồng hoà giải lao động cơ sở phải được thành lập trong các doanh nghiệp có

công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn lâm thời. 

Thành phần của Hội đồng hoà giải lao động cơ sở gồm số đại diện ngang nhau của bên

người lao động và bên người sử dụng lao động. Hai bên có thể thoả thuận lựa chọn thêm
thành viên tham gia Hội đồng. 

2. Nhiệm kỳ của Hội đồng hoà giải lao động cơ sở là hai năm. 
Đại diện của mỗi bên luân phiên làm Chủ tịch, Thư ký Hội đồng. Hội đồng hoà giải

lao động cơ sở làm việc theo nguyên tắc thoả thuận và nhất trí.

3. Người sử dụng lao động bảo đảm điều kiện cần thiết cho hoạt động của Hội đồng

hoà giải lao động cơ sở.

4. Hội đồng hoà giải lao động cơ sở tiến hành hoà giải các tranh chấp lao động quy

định tại Điều 157 của Bộ luật này.

Điều 163
Hoà giải viên lao động do cơ quan lao động huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

cử để tiến hành hoà giải các tranh chấp lao động quy định tại Điều 157 của Bộ luật này, tranh
chấp về thực hiện hợp đồng học nghề và chi phí dạy nghề.

Điều 164
1. Hội đồng trọng tài lao động do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung

ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) thành lập, gồm các thành viên chuyên
trách và kiêm nhiệm là đại diện của cơ quan lao động, công đoàn, người sử dụng lao động và
đại diện của Hội luật gia hoặc là người có kinh nghiệm trong lĩnh vực quan hệ lao động ở địa
phương.

2. Số lượng thành viên của Hội đồng trọng tài lao động là số lẻ và không quá bảy

người. Chủ tịch và Thư ký Hội đồng là đại diện của cơ quan lao động cấp tỉnh.  

3. Nhiệm kỳ của Hội đồng trọng tài lao động là ba năm.
4. Hội đồng trọng tài lao động tiến hành hoà giải các tranh chấp lao động tập thể về

lợi ích quy định tại khoản 3 Điều 157 và tranh chấp lao động tập thể quy định tại Điều 175
của Bộ luật này. 

5. Hội đồng trọng tài lao động quyết định phương án hoà giải theo nguyên tắc đa số,

bằng cách bỏ phiếu.

6. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh bảo đảm điều kiện cần thiết cho hoạt động của Hội đồng

trọng tài lao động.

Mục II

THẨM QUYỀN VÀ TRÌNH TỰ

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN

Điều 165 
Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm:
1. Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động;
2. Toà án nhân dân.
Điều 165a

3

Mô tả tài liệu

Các bộ luật, bảo hiểm, thuế, thang bảng lương ...

Bình luận

Tài liệu cùng bộ

Bộ tài liệu liên quan

3 tài liệu
0
1581
1 tài liệu
0
790
1 tài liệu
0
726
2 tài liệu
0
1109
6 tài liệu
0
3092
1 tài liệu
0
751
1 tài liệu
0
754
1 tài liệu
0
765
4 tài liệu
0
2278
2 tài liệu
0
1259
3 tài liệu
0
1578
1 tài liệu
0
702
10 tài liệu
0
4786
10 tài liệu
0
4975
10 tài liệu
0
5290
10 tài liệu
0
5904
5 tài liệu
0
2897

Bộ tài liệu liên quan

18/09/2018
3 tài liệu
0
1581
18/09/2018
1 tài liệu
0
790
18/09/2018
1 tài liệu
0
726
18/09/2018
2 tài liệu
0
1109
18/09/2018
6 tài liệu
0
3092
18/09/2018
1 tài liệu
0
751
18/09/2018
1 tài liệu
0
754
18/09/2018
1 tài liệu
0
765
18/09/2018
4 tài liệu
0
2278
18/09/2018
2 tài liệu
0
1259
18/09/2018
3 tài liệu
0
1578
18/09/2018
1 tài liệu
0
702
18/09/2018
10 tài liệu
0
4786
18/09/2018
10 tài liệu
0
4975
18/09/2018
10 tài liệu
0
5290
18/09/2018
10 tài liệu
0
5904
18/09/2018
5 tài liệu
0
2897