BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH ẢNH HƯỞNG ĐẾN BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN

03:06 07/17/2018

Đến lúc này, ta vẫn chỉ mới xem xét riêng bảng cân đối kế toán. Nhưng đến đây xin tiết lộ với bạn một trong những bí mật được giữ kín nhất của thế giới báo cáo tài chính: một thay đổi trong báo cáo này gần như luôn ảnh hưởng đến báo cáo kia. Vì vậy, khi quản lý báo cáo kết quả kinh doanh, cũng là lúc bạn đồng thời tác động đến bảng cân đối kế toán.

TÁC ĐỘNG CỦA LỢI NHUẬN LÊN VỐN CHỦ SỞ HỮU

Để thấy được mối quan hệ giữa lợi nhuận (từ báo cáo kết quả kinh doanh) và vốn chủ sở hữu (được thể hiện trên bảng cân đối kế toán), chúng ta sẽ tìm hiểu một số ví dụ. Dưới đây là một bảng cân đối kế toán đã được giản lược hết sức của một doanh nghiệp mới toanh (và rất nhỏ!):

Tài sản

Tiền mặt 25 đô-la Khoản phải thu 0 Tổng tài sản 25 đô-la

Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu

Các khoản phải trả 0 đô-la Vốn chủ sở hữu 25 đô-la

Giả sử chúng ta điều hành doanh nghiệp này trong một tháng. Chúng ta

mua 50 đô-la linh kiện và nguyên vật liệu, rồi dùng chúng để sản xuất và bán được 100 đô-la thành phẩm. Chúng ta cũng phải chịu 25 đô-la cho các chi phí khác. Báo cáo kết quả kinh doanh của tháng đó sẽ có dạng như sau:

Doanh thu 100 đô-la Giá vốn hàng bán 50 Lợi nhuận gộp 50

Tất cả các khoản chi 25 Lợi nhuận thuần 25 đô-la

Giờ thì: điều gì sẽ thay đổi trên bảng cân đối kế toán?

Trước hết, chúng ta đã dùng toàn bộ tiền mặt để trang trải chi phí.

Tiếp đó, chúng ta thu được 100 đô-la từ các khoản phải thu khách hàng. Sau cùng, chúng ta có một khoản nợ phải trả 50 đô-la đối với nhà cung cấp.

Vì thế, bảng cân đối cuối tháng sẽ như sau: Tài sản

Tiền mặt 0 đô-la Khoản phải thu 100 Tổng tài sản 100 đô-la

Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Khoản phải trả 50 đô-la

Vốn chủ sở hữu 50 đô-la

Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu 100 đô-la

Như bạn thấy, khoản lợi nhuận thuần 25 đô-la đã trở thành vốn chủ sở hữu. Trên bảng cân đối kế toán chi tiết hơn, nó sẽ xuất hiện như lợi nhuận giữ lại, nằm bên dưới dòng vốn chủ sở hữu. Đây là thực tế ở tất cả các doanh nghiệp: lãi ròng sẽ được cộng vào vốn, trừ khi nó được dùng làm cổ tức. Cũng tương tự như vậy, lỗ ròng sẽ làm giảm vốn. Nếu một doanh nghiệp chịu lỗ mỗi tháng, thì cuối cùng nợ phải trả của doanh nghiệp đó sẽ vượt quá tài sản, vốn chủ sở hữu sẽ âm. Doanh nghiệp đứng trên bờ vực phá sản.

Hãy lưu ý thêm một điều nữa ở ví dụ đơn giản này: doanh nghiệp đã phải gồng cả tháng vì không có tiền! Họ làm ra tiền, và vốn chủ sở hữu tăng, nhưng họ không có đồng nào trong ngân hàng. Vì thế, một nhà quản lý giỏi cần phải hiểu rõ cách thức tiền mặt và lợi nhuận tương tác với nhau trên bảng cân đối kế toán. Đây là chủ đề mà chúng ta sẽ quay trở lại ở Phần IV, khi bắt đầu tìm hiểu báo cáo lưu chuyển tiền tệ.

VÀ NHIỀU TÁC ĐỘNG KHÁC

Mối quan hệ giữa lợi nhuận và vốn chủ sở hữu không chỉ phải là liên kết duy nhất giữa báo cáo kết quả kinh doanh với bảng cân đối kế toán. Mỗi khoản thu được ghi nhận trên báo cáo kết quả kinh doanh đều tạo ra một sự gia tăng tương ứng trong tiền mặt (nếu đó là bán hàng thu tiền mặt) hoặc khoản phải thu. Mỗi đồng tiền lương được ghi nhận trong COGS hay chi phí hoạt động đều làm giảm một đồng trên dòng tiền mặt (hay tăng một đồng ở dòng chi phí tích lũy) trên bảng cân đối kế toán. Mỗi lần mua nguyên vật liệu đều khiến các khoản nợ phải trả tăng thêm và cứ thế. Tất nhiên, mọi thay đổi ấy đều ảnh hưởng đến tổng tài sản hoặc tổng nợ phải trả.

Nhìn chung, nếu nhiệm vụ của một nhà quản lý là làm tăng lợi nhuận, thì nhà quản lý có thể có ảnh hưởng tích cực lên bảng cân đối kế toán, bởi một lẽ đơn giản lợi nhuận sẽ làm tăng vốn. Nhưng cũng không hẳn đơn giản như thế, bởi việc đó sẽ đặt ra vấn đề làm sao đạt được mức lợi nhuận đó, và điều gì sẽ xảy ra với các tài sản và các khoản nợ khác trên chính bảng cân đối kế toán. Giả sử:

Giám đốc một nhà máy biết một mối tốt bán một loại nguyên liệu thô quan trọng, và đề nghị mua nguyên liệu đó với số lượng lớn. Rất hợp lý đúng không? Không hẳn. Dòng hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán sẽ tăng lên. Khoản phải trả cũng sẽ tăng theo tương ứng. Cuối cùng, nhà máy sẽ phải rút tiền mặt ra để thanh toán những khoản phải trả − có thể là rất sớm trước khi nguyên vật liệu được dùng để tạo ra doanh thu. Trong khi đó, nhà máy phải gánh thêm chi phí lưu kho, và có thể sẽ cần phải vay thêm tiền để bù thâm hụt ngân sách. Việc đánh giá một thương vụ có lợi hay không đòi hỏi một phân tích rất chi li; hãy đảm bảo là bạn đã cân nhắc tất cả các vấn đề tài chính khi đưa ra những kiểu quyết định như vậy.

Một giám đốc bán hàng đang tìm cách tăng doanh thu và lợi nhuận, và quyết định nhắm tới đối tượng khách hàng mục tiêu là những doanh nghiệp nhỏ hơn. Đây có phải là một ý hay không? Có lẽ không. Khách hàng nhỏ hơn không thể có cấp rủi ro tín dụng tốt như các khách hàng lớn. Các khoản phải thu có thể tăng mạnh vì khách hàng thanh toán chậm. Kế toán viên có thể sẽ phải tăng thêm dự phòng “nợ xấu”, thông số này sẽ làm giảm lợi nhuận, tài sản, và cùng với đó là giảm vốn chủ sở hữu. Một giám đốc bán hàng có trí tuệ tài chính sẽ phải điều tra các khả năng định giá: anh ta có thể tăng thêm lợi nhuận gộp để bù đắp cho những rủi ro ngày càng tăng khi bán hàng cho khách hàng nhỏ không?

Một giám đốc công nghệ thông tin quyết định mua một hệ thống máy tính mới, với niềm tin rằng hệ thống mới sẽ thúc đẩy năng suất và nhờ đó góp phần gia tăng lợi nhuận. Nhưng doanh nghiệp sẽ trông vào đâu để thanh toán cho dàn thiết bị mới? Nếu doanh nghiệp được tạo đòn bẩy quá đà − tức là doanh nghiệp đó phải gánh nợ quá nặng so với vốn, việc vay tiền để chi trả cho hệ thống mới có lẽ không phải là ý hay. Có lẽ họ sẽ cần tung ra cổ phiếu mới để gia tăng khoản đầu tư vốn chủ sở hữu. Đưa ra các quyết định huy động lượng vốn cần thiết để vận hành doanh nghiệp là công việc của giám đốc tài chính và thủ quỹ, chứ không phải của giám đốc công nghệ thông tin. Nhưng sự thông hiểu về tình hình tiền mặt và nợ của công ty sẽ giúp vị giám đốc này có thêm thông tin để ra quyết định khi nào nên mua thiết bị mới.

Nói tóm lại, bất kỳ nhà quản lý nào cũng có thể muốn lùi lại một bước, ngay bây giờ và sau này nữa, để xem xét bức tranh tổng thể. Hãy xem xét không chỉ khoản mục báo cáo mà ta đang chú ý đến trên kết quả kinh doanh, chúng ta cần xem xét cả bảng cân đối kế toán (cũng như báo cáo lưu chuyển tiền tệ – loại báo cáo tài chính mà chúng ta sẽ sớm nghiên cứu). Khi làm vậy, suy nghĩ của bạn, công việc và quyết định của bạn sẽ trở nên “sâu sắc hơn” − tức là chúng sẽ cân nhắc đến nhiều khía cạnh hơn, và bạn có thể trao đổi về tác động đó ở tầng sâu hơn. Mặt khác, hãy tưởng tượng bạn đang nói chuyện với giám đốc tài chính về tác động của lợi nhuận lên vốn chủ sở hữu: có lẽ ông ta sẽ rất ấn tượng (thậm chí là sốc) đấy.

ĐÁNH GIÁ SỨC KHỎE CỦA DOANH NGHIỆP

Hãy nhớ, ngay ở đầu phần này chúng tôi đã nói rằng những nhà đầu tư khôn ngoan thường nghiền ngẫm bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp trước tiên. Lý do vì, bảng cân đối kế toán giải đáp rất nhiều câu hỏi − những câu kiểu như sau:

Doanh nghiệp có khả năng thanh toán không? Hay nói cách khác, tài sản của doanh nghiệp có lớn hơn nợ phải trả, để vốn chủ sở hữu có thể dương không?

Doanh nghiệp có khả năng thanh toán hóa đơn không? Các số liệu quan trọng ở đây là tài sản ngắn hạn, đặc biệt là tiền mặt, so với nợ ngắn hạn. Chúng ta sẽ bàn thêm điều này ở Phần V, phần về các tỷ lệ.

Vốn chủ sở hữu có tăng theo thời gian không? Một so sánh giữa các bảng cân đối cùng kỳ sẽ cho thấy liệu doanh nghiệp có đang đi đúng hướng không.

Đây tất nhiên là những câu hỏi đơn giản và cơ bản. Nhưng các nhà đầu tư có thể biết thêm nhiều điều nữa khi nghiên cứu tỉ mỉ bảng cân đối kế toán và các chú thích đi kèm, cũng như khi đối chiếu bảng cân đối kế toán với các báo cáo khác. Lợi thế thương mại có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với dòng “tổng tài sản” của doanh nghiệp? Những giả định nào đã được dùng để tính khấu hao, và mức khấu hao đó quan trọng ra sao? (Hãy nhớ lại trường hợp WMI). Dòng “tiền mặt” đang tăng dần theo thời gian − thường là dấu hiệu tốt − hay đang giảm dần? Nếu vốn chủ sở hữu tăng, thì nguyên nhân là vì doanh nghiệp đang huy động vốn, hay là vì doanh nghiệp đã tự làm ra tiền?

Nói tóm lại, bảng cân đối kế toán (hay còn gọi là bảng cân đối thu chi) thể hiện sức khỏe tài chính của một doanh nghiệp. Tất cả các báo cáo đều hỗ trợ việc ra quyết định, nhưng bảng cân đối kế toán − giống như bảng điểm bình quân tích lũy của doanh nghiệp − có lẽ là loại báo cáo quan trọng nhất.

HỘP CÔNG CỤ

“NHÂN VIÊN LÀ TÀI SẢN GIÁ TRỊ NHẤT CỦA CHÚNG TA” (CÓ ĐÚNG VẬY KHÔNG?)

Bạn nghe các CEO nói điều này suốt: “Con người là tài sản giá trị nhất của chúng tôi”. Nhưng bạn cũng thấy một số CEO hành xử như thể các nhân viên không phải là tài sản. Bạn có tưởng tượng ra một doanh nghiệp giảm biên chế hoặc sa thải món tài sản nào khác − đơn giản là tống thứ đó ra đường với hi vọng rằng nó sẽ tự biết bỏ đi – không? Khi các CEO bảo rằng họ phải cắt giảm chi phí, thì thường ý của họ là họ sẽ cắt giảm nhân sự.

Làm thế nào để dung hòa hai quan điểm này? Ai cũng phải thừa nhận rằng, nhân viên là tài sản. Kiến thức và công việc của họ mang lại giá trị cho doanh nghiệp. Khi một doanh nghiệp mua lại một doanh nghiệp khác, giá trị của nhân viên được nhìn nhận như một phần của lợi thế thương mại.

Dù vậy, mặt khác, giá trị của nhân viên lại không được thể hiện trên bảng cân đối. Bởi hai lý do:

Ngoài hình thức mua lại, không ai biết rõ cách định giá nhân viên. Giá trị của kiến thức là bao nhiêu? Không có một kế toán viên nào muốn giải quyết dứt điểm vấn đề đó. Và Ủy ban Quy chuẩn Tài chính Kế toán cũng không có ý định đảm nhận nhiệm vụ này bằng một sự thay đổi trong GAAP.

Nói cho cùng thì các doanh nghiệp không sở hữu nhân viên. Thế nên ta không thể xem họ như là tài sản theo thuật ngữ kế toán.

Quả thật, các nhân viên có gây ra chi phí: tiền lương, dưới hình thức này hay hình thức khác, thường là một trong những khoản lớn nhất trên báo cáo kết quả kinh doanh. Nhưng điều mà các CEO ngụ ý chủ yếu liên quan đến văn hóa doanh nghiệp, hơn là liên quan đến phương diện kế toán.

Một số tổ chức có vẻ như thực sự xem nhân viên là tài sản: họ tập huấn, đầu tư, chăm sóc nhân viên chu đáo. Những công ty khác lại tập trung vào góc độ chi phí, trả cho nhân viên mức lương thấp nhất có thể và ép họ làm việc nhiều nhất có thể. Nhưng liệu chiến lược đầu có đáng thực hiện hay không? Nhiều người (bao gồm cả chính chúng tôi) tin rằng đối đãi với nhân viên hợp lý sẽ tạo ra tinh thần làm việc cao hơn, phẩm chất tốt hơn, và sau rốt khách hàng sẽ thỏa mãn hơn. Trong điều kiện mọi thứ khác không đổi, thì nó sẽ thúc đẩy lợi nhuận gia tăng trong thời gian dài, và từ đó nâng cao giá trị của doanh nghiệp. Tất nhiên, cũng có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến sự thành bại  của một doanh nghệp. Do đó, hiếm khi có một tương quan một-đối-một giữa một bên là văn hóa và quan điểm của doanh nghiệp và một bên là hoạt động tài chính.

CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG? HAY CHI PHÍ ĐẦU TƯ CƠ BẢN?

Khi một doanh nghiệp mua một thiết bị thuộc hạng mục đầu tư cơ bản, chi phí mua sắm sẽ không được thể hiện trên báo cáo kết quả kinh doanh; thay vào đó, tài sản mới này sẽ xuất hiện trên bảng cân đối kế toán, và mức khấu hao chỉ xuất hiện trên báo cáo kết quả kinh doanh như một khoản phí trừ vào lợi nhuận. Bạn có thể thấy sự khác biệt giữa “chi phí hoạt động” (trên báo cáo kết quả kinh doanh) và “chi phí đầu tư cơ bản” (trên bảng cân đối kế toán) rất rõ ràng và dễ hiểu. Nhưng rõ ràng là không phải vậy. Thực tế là đây là tấm vải để vẽ nên bức tranh nghệ thuật tài chính.

Hãy để ý rằng việc loại khỏi báo cáo kết quả kinh doanh một khoản nợ và đưa khoản đó vào bảng cân đối kế toán, sao cho chỉ có khoản khấu hao xuất hiện như là khoản phí trừ vào lợi nhuận, có ảnh hưởng đáng kể đến sự gia tăng lợi nhuận. Lấy WorldCom làm ví dụ. Một phần chi phí không nhỏ của gã khổng lồ viễn thông này là chi phí đường dây. Đây là khoản phí sử dụng đường dây điện thoại mà WorldCom chi trả cho các công ty điện thoại địa phương. Bình thường, chi phí đường dây được xử lý như những khoản chi phí hoạt động thông thường, nhưng bạn có thể lý luận (dù lập luận này không chính xác) rằng một số trong đó thực ra là những khoản đầu tư vào thị trường mới và sẽ phải mất nhiều năm mới thu được kết quả. Dù vậy, logic này đã thuyết phục được Scott Sullivan, giám đốc tài chính của công ty, người bắt đầu “vốn hóa” chi phí đường dây vào cuối thập niên 1990. Chuẩn xác: những khoản chi phí này biến mất khỏi báo cáo, và lợi nhuận của công ty tăng lên hàng tỷ đô-la. Đối với Phố Wall, có vẻ như WorldCom đột nhiên làm ra được lợi nhuận trong một ngành suy thoái và mọi chuyện không bị ai phát hiện cho đến mãi sau này khi toàn bộ khối xây dựng lỏng lẻo ấy đổ sụp.

WorldCom đã quá bạo tay vốn hóa những khoản phí ấy và rốt cuộc rơi vào cảnh nước sôi lửa bỏng. Một số công ty sẽ xử lý những khoản gây bàn cãi không thường xuyên này như là chi phí đầu tư cơ bản hòng đẩy thu nhập của mình tăng lên chút ít. Công ty của bạn có như vậy không?

-Karen Berman & Joe Knight, John Case-

Bình luận