BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN - NƠI VÉN MỞ NHIỀU ĐIỀU NHẤT

15:12 07/13/2018

Ở các báo cáo tài chính có một điều khó hiểu mà có lẽ bạn cũng đã nhận thấy. Nếu trao cho một nhà quản lý giàu kinh nghiệm một tập tài liệu tài chính, thì thứ đầu tiên mà ông ta sẽ tìm đến là báo cáo kết quả kinh doanh. Hầu hết các nhà quản lý đều giữ − hoặc đều muốn giữ − “trọng trách lỗ lãi”. Họ có trách nhiệm “làm đẹp” các khoản lợi nhuận khác nhau. Họ biết, báo cáo kết quả kinh doanh là nơi mà cuối cùng hiệu quả công việc của họ sẽ được ghi lại. Bởi vậy, họ luôn nhìn vào nó trước nhất.

1.    HIỂU NHỮNG ĐIỀU CĂN BẢN VỀ BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN

Bây giờ, ta hãy thử đưa tập tài liệu tài chính tương tự cho một chuyên viên ngân hàng, hay một nhà đầu tư có kinh nghiệm ở Phố Wall, hay một thành viên kỳ cực có chân trong hội đồng quản trị. Báo cáo đầu tiên mà những người này luôn tìm xem sẽ là bảng cân đối kế toán. Thực tế là họ sẽ săm soi nó một lúc lâu. Sau đó, họ mới bắt đầu lật giở các trang khác, kiểm tra báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ − nhưng họ luôn trở lại bảng cân đối kế toán.

Tại sao các nhà quản lý không làm như các chuyên gia? Tại sao họ chỉ giới hạn sự ý của mình đến bản báo cáo kết quả kinh doanh? Chúng tôi cho rằng có ba lý do như sau:

Bảng cân đối kế toán có phần hơi khó hiểu so với báo cáo kết quả kinh doanh. Báo cáo kết quả kinh doanh dù gì cũng khá trực quan. Nhưng bảng cân đối kế toán thì không − chí ít là không dễ để bạn hiểu được những điều căn bản.

Quá trình lập dự toán của hầu hết các doanh nghiệp đều tập trung vào doanh thu và chi phí. Nói cách khác, các hạng mục ngân sách đều phù hợp với báo cáo kết quả kinh doanh. Bạn không thể trở thành nhà quản lý mà không biết chút gì về công tác lập dự toán − điều này tự động nói lên rằng, có rất nhiều dòng khác trên báo cáo kết quả kinh doanh quen thuộc với bạn. Trái ngược với điều này, các dữ liệu trên bảng cân đối kế toán hiếm khi có trong bảng dự toán của vị giám đốc điều hành (dù  chắc chắn bộ phận tài chính có lập dự toán cho các khoản trên bảng cân đối kế toán).

Kiểm soát bảng cân đối kế toán (hay còn gọi là bảng cân đối thu chi) đòi hỏi những hiểu biết tài chính sâu hơn so với việc kiểm soát báo cáo kết quả kinh doanh. Bạn không chỉ buộc phải hiểu các hạng mục khác nhau cho thấy điều gì, mà còn phải biết chúng phù hợp với nhau như thế nào. Bạn cũng phải hiểu những thay đổi trên bảng cân đối kế toán ảnh hưởng ra sao đến các báo cáo tài chính khác, và ngược lại.

Chúng tôi đoán là bạn có phần e dè khi tìm hiểu bảng cân đối kế toán. Nhưng hãy nhớ: ở đây chúng tôi đang tập trung vào trí tuệ tài chính − tức là hiểu các kết quả tài chính được đo lường như thế nào, và bạn − với tư cách một nhà quản lý, nhân viên hoặc một nhà lãnh đạo − có thể làm gì để cải thiện kết quả. Chúng tôi sẽ không đi vào các yếu tố chuyên sâu của bảng cân đối kế toán, mà chỉ nói về những điều mà bạn cần biết để đánh giá đúng nghệ thuật của loại báo cáo này, và tiến hành các phân tích với sự hỗ trợ từ nó.

BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN CHO BIẾT NGAY LÚC NÀY MỌI THỨ ĐANG Ở ĐÂU

Vậy thế nào là bảng cân đối kế toán? Bảng cân đối kế toán chẳng là gì khác ngoài một báo cáo về những gì doanh nghiệp có và nợ tại một thời điểm cụ thể. Con số chênh lệch giữa tài sản và nợ phải trả của doanh nghiệp là vốn chủ sở hữu (equity). Cùng với mục tiêu gia tăng khả năng sinh lời, doanh nghiệp còn có một mục tiêu khác nữa là gia tăng vốn chủ sở hữu. Và rất tình cờ, hai mục tiêu này có liên quan chặt chẽ với nhau.

cân đối kế toán

Vốn chủ sỡ hữu

Vốn chủ sở hữu (equity) là “phần góp vốn” của các cổ đông trong doanh nghiệp, theo cách đo lường của các quy tắc kế toán. Nó còn được gọi là giá trị sổ sách của doanh nghiệp. Trên phương diện kế toán, vốn chủ sở hữu luôn bằng tài sản trừ đi nợ phải trả; nó cũng là tổng số tiền mà các cổ đông bỏ ra cộng với bất kỳ khoản lợi nhuận nào mà doanh nghiệp thu được sau khi trừ hết các khoản lợi tức chia cho cổ đông. Dù sao thì đây cũng là công thức kế toán; và chớ quên rằng giá trị thật sự của cổ phiếu doanh nghiệp là mức giá bất kỳ mà người mua đồng ý bỏ ra.

Vậy, mối quan hệ ở đây là gì? Hãy xem xét một trường hợp tương tự. Khả năng sinh lời giống như điểm số mà bạn nhận được sau khóa học ở trường đại học. Bạn bỏ ra một học kỳ viết luận và thi cử. Cuối học kỳ, thầy cô giáo kiểm tra kết quả học tập của bạn, và cho bạn điểm A- hoặc C+, hay một số điểm bất kỳ nào đó.

Vốn chủ sở hữu giống như tổng điểm trung bình (GPA: grade point average). GPA luôn phản ánh kết quả học tập tích lũy của bạn, nhưng chỉ tại một thời điểm nhất định. Bất kỳ một điểm số nào cũng ảnh hưởng đến nó, nhưng không thể quyết định được nó. Báo cáo kết quả kinh doanh tác động đến bảng cân đối theo cách gần như tương tự với cách điểm số ảnh hưởng đến GPA.

Tạo ra lợi nhuận trong một giai đoạn cụ thể, và số vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán của bạn sẽ tăng. Khi bạn thua  lỗ, nó sẽ giảm. Theo thời gian, khoản mục vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán sẽ cho ta thấy sự tích lũy lợi nhuận hoặc thua lỗ còn lại của doanh nghiệp; dòng này được gọi là thu nhập (khoản lỗ) giữ lại, hoặc đôi khi là thu nhập (thâm hụt) tích lũy.

Tuy nhiên, ở đây, hiểu biết về bảng cân đối kế toán cũng có nghĩa là hiểu về mọi giả định, quyết định và ước tính lồng trong nó. Cũng như báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, trên nhiều phương diện, là một tác phẩm nghệ thuật, chứ không đơn thuần là một công trình tính toán.

CÁ NHÂN VÀ DOANH NGHIỆP

Bởi lẽ bảng cân đối kế toán rất đỗi quan trọng, nên chúng tôi muốn bắt đầu với một số bài học đơn giản. Hãy đồng cam cộng khổ cùng chúng tôi – điều quan trọng là ta phải biết bò trước khi tập đi, đặc biệt là trong trường hợp này.

Hãy bắt đầu bằng việc xem xét tình hình tài chính, hay giá trị tài chính, của một cá nhân tại một thời điểm bất kỳ. Cộng tất cả những gì sở hữu, rồi trừ đi mọi khoản nợ, và bạn sẽ thu được giá trị thuần của người đó:

có − nợ = giá trị thuần

Một cách phát biểu khác cho công thức trên là: có = nợ + giá trị thuần

Đối với một cá nhân, hạng mục sở hữu có thể bao gồm tiền mặt trong

ngân hàng, những món tài sản giá trị như nhà ở, ô tô và tất cả các tài sản khác mà người đó nắm quyền sở hữu. Nó cũng có thể bao gồm các tài sản tài chính như cổ phiếu và trái phiếu, hoặc tài khoản hưu trí 401 (k). Hạng mục “nợ” bao gồm thế chấp mua nhà, tiền vay mua xe, nợ thẻ tín dụng và một khoản nợ bất kỳ nào khác. Xin hãy lưu ý, lúc này chúng tôi đang cố tránh câu hỏi phải tính toán các con số trên như thế nào. Giá trị của căn nhà là gì – là giá trị người ta đã bỏ ra để mua nó, hay giá trị mà hiện tại nó mang lại? Còn ô tô và tivi thì sao? Bạn có thể thấy nghệ thuật tài chính đang dáo dác đâu đây − nhưng ta sẽ nói kỹ hơn về nó vào lúc khác.

Bây giờ, hãy chuyển từ cá nhân sang doanh nghiệp. Vẫn là những khái niệm đó, chỉ có ngôn từ khác đi:

Những gì một doanh nghiệp có được gọi là tài sản. Những gì một doanh nghiệp nợ được gọi là nợ phải trả.

Giá trị của doanh nghiệp được gọi là vốn chủ sở hữu hoặc vốn cổ đông. Và ta có phương trình cơ bản như sau:

Tài sản − nợ phải trả = vốn chủ sở hữu

hoặc

Tài sản = nợ phải trả + vốn chủ sở hữu

Nếu từng học bất kỳ một khóa kế toán nào, có lẽ bạn đã được học những công thức này. Có lẽ các giảng viên đã gọi nó là phương trình kế toán cơ bản. Và có lẽ bạn cũng biết, công thức thứ hai thể hiện hai bên của bảng cân đối kế toán: một bên là tài sản, bên kia là nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Tổng bên này luôn bằng tổng bên kia; bảng cân đối kế toán luôn cân đối. Trước khi kết thúc Phần III này, bạn sẽ hiểu lý do tại sao.

ĐỌC BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN

Tuy vậy, trước tiên, ta phải tìm được một bảng cân đối kế toán, bất kể đó là bảng cân đối kế toán của công ty bạn, hay bảng cân đối kế toán trong một báo cáo thường niên nào đó. (Hoặc bạn có thể xem mẫu bảng cân đối kế toán trong phần phụ lục). Vì bảng cân đối kế toán thể hiện tình hình tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, nên nó cần ghi rõ ngày tháng cụ thể ở trên đầu.

Thường thì đó là ngày cuối tháng, cuối quý, cuối năm hoặc cuối năm tài khóa. Khi xem cùng lúc nhiều báo cáo tài chính khác nhau, thường bạn sẽ muốn xem báo cáo kết quả kinh doanh của một tháng, một quý hoặc một năm cùng với bảng đối kế toán ở cuối kỳ kế toán đó. Không giống như báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toàn gần như luôn được lập cho toàn bộ tổ chức.

Cũng có khi một công ty lớn lập bảng cân đối kế toán phụ cho các chi nhánh, nhưng họ hiếm khi làm thế đối cho một cơ sở. Như chúng ta sẽ thấy, các chuyên gia kế toán phải đưa ra các dự toán trong bảng cân đối kế toán, tương tự như trong báo cáo kết quả kinh doanh. Bạn còn nhớ công ty chuyển phát mà chúng ta đã thảo luận không? Cách thức chúng ta khấu hao chiếc xe tải không chỉ ảnh hưởng đến báo cáo kết quả kinh doanh mà còn ảnh hưởng cả giá trị tài sản trên bảng cân đối kế toán. Điều đó chỉ ra rằng các giả định và định kiến trong báo cáo kết quả kinh doanh sẽ đổ vào bảng cân đối kế toán theo một cách nào đó.

Bảng cân đối kế toán có hai dạng điển hình. Kiểu truyền thống thể hiện tài sản ở bên trái, và phần nợ cùng vốn chủ sở hữu ở bên phải, với các khoản nợ nằm trên. Dạng cách tân hơn thì đặt tài sản trên cùng, nợ ở giữa và dưới cùng là vốn chủ sở hữu. Nhưng dù là dạng nào, bảng cân đối kế toán vẫn giống nhau: tài sản phải bằng nợ phải trả cộng với vốn chủ sở hữu. (Ở các tổ chức phi lợi nhuận, vốn chủ sở hữu đôi khi được gọi là “tài sản thuần”). Thường thì bảng cân đối kế toán đưa ra các con số so sánh cho, chẳng hạn, ngày 31 tháng Mười hai của năm gần đây nhất với ngày 31 tháng Mười hai của năm trước đó. Hãy kiểm tra các tiêu đề cột để biết thời điểm đang được so sánh.

năm tài khóa

Năm tài khóa (fiscal year) là khoảng thời gian 12 tháng bất kỳ mà một doanh nghiệp dùng vào các mục đích kế toán. Nhiều doanh nghiệp áp dụng năm tài khóa theo lịch, nhưng một số lại dùng các khoảng thời gian khác (chẳng hạn, từ ngày 1 tháng Mười đến ngày 30 tháng Chín). Một số nhà bán lẻ dùng một ngày cuối tuần cụ thể, chẳng hạn như ngày Chủ nhật cuối cùng trong năm, để đánh dấu kết thúc năm tài khóa. Bạn phải biết năm tài khóa của doanh nghiệp để hiểu rõ thông tin mà bạn đang theo dõi cập nhật đến mức độ nào.

Cũng như với báo cáo kết quả kinh doanh, một số tổ chức cũng sẽ có các khoản mục bất thường trên bảng cân đối kế toán, chúng tôi sẽ không thảo luận về các khoản mục đó trong cuốn sách này. Hãy nhớ rằng, nhiều khoản như vậy có thể được giải thích rõ trong phần chú thích. Trên thực tế, bảng cân đối kế toán khét tiếng cũng vì các chú thích. Báo cáo thường niên của Tập đoàn Ford Motor có đến 30 trang dày đặc chú thích, chủ yếu trong số đó là chú thích cho bảng cân đối kế toán. Thật vậy, các doanh nghiệp thường có tuyên bố từ chối trách nhiệm ở phần chú thích, nêu rõ quan điểm về nghệ thuật tài chính được sử dụng. Chẳng hạn, Ford có nói:

Việc sử dụng các ước tính, Các báo cáo tài chính được lập ra theo bộ tiêu chuẩn tắc kế toán được thừa nhận phổ quát tại Mỹ (GAAP). Ban quản lý buộc phải đưa ra các ước tính và giả định có ảnh hưởng đến các con số và kết quả công bố trong báo cáo. Kết quả thực tế có thể khác những giả định này. Các ước tính và các giả định được xem xét định kỳ, và tác động của bất kỳ điều chỉnh quan trọng nào cũng được phản ánh trong các báo cáo tài chính của những giai đoạn mà việc hiệu chỉnh được cho là cần thiết.

Nếu các chú thích không mang lại sự sáng sủa cần thiết, bạn có thể để khoản mục đó lại cho các chuyên gia tài chính. (Dù vậy, nếu điều bạn thắc mắc quan trọng, thì bạn nên tham vấn bộ phận kế toán về khoản mục đó và các số liệu đi kèm).

Vì bảng cân đối kế toán vẫn còn khá xa lạ đối với hầu hết các nhà quản lý, nên chúng tôi muốn cùng bạn tìm hiểu qua các khoản mục phổ biến nhất. Một số ban đầu có thể trông lạ lẫm, nhưng chớ lo: bạn chỉ cần chú ý đến sự khác biệt giữa “tài sản” và “nợ phải trả”. Và cũng như với báo cáo kết quả kinh doanh, chúng ta sẽ dừng lại lâu hơn ở những khoản mục dễ điều chỉnh nhất.

-Karen Berman & Joe Knight, John Case-

Bình luận